Showing posts with label phong cách. Show all posts
Showing posts with label phong cách. Show all posts

Wednesday, 18 March 2015

Chơi chữ tài tình trong Procès de la colonisation française




Tiếng Pháp có từ chinoiserie, vốn dùng để chỉ những thứ có mùi Tàu. Từ này dùng ở số nhiều (chinoiseries) chỉ hàng mỹ nghệ của Trung Quốc nói chung: magasin de chinoiseries (cửa hàng mỹ nghệ Trung Hoa), cũng có thể dùng để chỉ những chuyện rất ư là phiền toái, rắc rối, không giống ai... vì người Pháp vẫn nghĩ “Tàu là thế”.
Dựa vào từ chinoiserie Nguyễn Ái Quốc đã tạo ra từ indochinoiserie để chỉ một sự hết sức vớ vẩn chỉ có ở Đông Dương:
Vous diriez peut­être que c'est une vaste indochinoiserie que de faire gouverner un pays par un homme qui n'y entend rien.
Bản dịch của nhà xuất bản Sự Thật (1975):
Có lẽ các bạn cho rằng đưa một người không hiểu gì về Đông Dương đến nắm vận mệnh Đông Dương thì thật là một trò hề lớn kiểu Đông Dương chứ gì.

Friday, 7 December 2012

Vì sao ta biết tâm hồn Nguyễn Trãi nhạy cảm?



Nguyễn Tài Cẩn & Vũ Đức Nghiệu (1980) viết thế này:
Nguyễn Trãi ít dùng từ Hán Việt, Nguyễn Trãi chuyên dùng từ đơn âm chính là vì Nguyễn Trãi nhạy cảm, Nguyễn Trãi luôn nghiêng hẳn về lớp từ gốc gác Việt Nam, về lớp từ quen thuộc đã có lâu đời.
Vội chạy đi tìm cuốn vở học tiếng Việt của thằng con. Thì ra nó cũng là đứa nhạy cảm.

Xem thêm:
Nguyễn Tài Cẩn & Vũ Đức Nghiệu, 1980,  “Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi (qua số liệu thống kê)”, Ngôn ngữ, số 3, Viện Ngôn Ngữ Học, Hà Nội, tr. 15 – 21.

Wednesday, 5 December 2012

Tỷ lệ hapax ở Quốc Âm Thi Tập cao như thế thì đã sao?



Nguyễn Tài Cẩn & Vũ Đức Nghiệu (1980) thấy có 46 % trường hợp trong Quốc Âm Thi Tập Nguyễn Trãi dùng từ không lặp lại một lần nào. Con số này được xem là khá cao nếu đem so sánh với ngay cả thể loại truyện ký của các nhà văn hiện đại (Nguyễn Thiện Giáp, 2007b:213).
Nhưng con số này không có gì đáng để ngạc nhiên cả. Nếu muốn so sánh với một tác giả hiện đại, nên lựa quyển Tào Lao Thi Tập của Nguyễn Văn Mỗ. Quyển này được chọn vì nó có độ dài tương đương, hai tập thơ có số bài ngang ngửa nhau... Phải so trong những điều kiện ngang bằng nhau mới biết được ai giỏi hơn ai, à không, từ ngữ của ai phong phú hơn. Tối kỵ là đem so Quốc Âm Thi Tập với một trường thiên tiểu thuyết như Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác hay bản dịch Chiến Tranh và Hòa Bình của Lev Tolstoi. Tha hồ mà ngạc nhiên.
Xem thêm:
Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), 2007b, Lược sử Việt ngữ học tập 2, Giáo Dục, Hà Nội, 534 trang.
Nguyễn Tài Cẩn & Vũ Đức Nghiệu, 1980,  “Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi (qua số liệu thống kê)”, Ngôn ngữ, số 3, Viện Ngôn Ngữ Học, Hà Nội, tr. 15 – 21.

Tuesday, 27 November 2012

Chênh lệch tần suất cực đại



Trước hết tôi chuyển biểu nhất lãm tần số các chữHán trên hai bản báo cáo của Hồ Cẩm Đào tại đại hội lần thứ 17 và lần thứ 18 củaĐảng Cộng Sản Trung Quốc thành biểu ghi tần suất. Do hai văn bản dài ngắn khác nhau và tần số của một chữ trên từng văn bản cũng có khác nhau nên tần suất có thể có sự chênh lệch. Tôi so đọ các chênh lệch đó và chỉ giữ lại giá trị chênh lệch mạnh nhất. Trong trường hợp đang xét, đó là từ  với mức chênh lệch tần suất giữa hai văn bản là 0.0031 (tức 0.3%). Một điểm thú vị nữa là từ cũng là từ xếp hạng cao nhất trên cả hai danh sách tần số được sắp theo thứ tự tần số giảm dần. Tần suất sử dụng các chữ Hán khác nhất định không có sự chênh lệch đáng kể (sai lệch nhiều lắm chỉ có thể đến mức 0.31% như trường hợp chữ là cùng).

Thursday, 18 October 2012

Đọc Nguyễn Văn Tuấn đọc Truyện Kiều...



Ở nước ta có một vài nhà khoa học hình như rất giỏi trong lĩnh vực của mình, nhưng từ đó lại tưởng rằng mình có thể phán truyền chân lý trong những lĩnh vực mà mình chưa từng được học giờ nào, và từ đó cho ra hết nhận định này đến nhận định khác cho thấy những lỗ hổng khổng lồ mà bất kỳ ai có chút học thức chuyên ngành cũng phải lấy làm xấu hổ. Thái độ này có thể thấy rõ hơn cả đối với những ngành mà có người cho là không cần học cũng biết, đặc biệt là ngôn ngữ học và văn học. Lẽ ra nhà khoa học tự cho mình cái quyền truyền phán về mọi ngành khoa học khác chỉ cần nhớ lại cái quá trình mấy mươi năm gian khổ mà mình đã trải qua để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực của mình cũng đủ hiểu là không làm gì có một ngành khoa học nào không cần học cũng biết được.

Xưa nay không ít người chưa học bò đã lo học chạy. Chuyện không có gì mới lạ. Nhưng chuyện lạ là ít ai để ý đến những người hoang tưởng rằng cứ chạy giỏi ở chỗ này (trị bệnh loãng xương chẳng hạn) ắt có thể chạy nhanh ở chỗ khác. Mấy bài viết về truyện Kiều của Nguyễn Văn Tuấn (Đọc Truyện Kiều băng thống kê học,  Nhân ngày Tết đọc lục bát bằng thống kê) là những ví dụ tiêu biểu cho cái chứng hoang tưởng đó.
Không thể nghiên cứu truyện Kiều bằng một quyển Kiều vớ được trên kệ sách thư viện địa phương hay trong tủ sách gia đình. Người nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung và truyện Kiều nói riêng luôn luôn phải ghi rõ văn bản mà mình sử dụng là bản nào. Nếu đó là sách in thì ai in, in năm nào, ở đâu...; nếu là thủ bản thì sách đó được lưu ở đâu, kho nào, ký hiệu số mấy... Lý do rất đơn giản và các thầy luôn dạy ngay cho sinh viên ngữ văn ngay từ ngày đầu họ tập tễnh vào nghề: những khác biệt giữa bản này với bản khác có thể là những chi tiết rất có ý nghĩa. Chỉ riêng việc khảo chứng những dị biệt giữa các văn bản của cùng một tác phẩm cũng đáng được xem là một chuyên ngành sâu.
Người đọc Nguyễn Văn Tuấn hoàn toàn không biết tác giả làm thống kê trên văn bản nào của Truyện Kiều. Cả các tác phẩm được đem ra đối chiếu (Lục Vân Tiên, thơ Nguyễn Bính) cũng không có thông tin gì về văn bản được sử dụng. Bài đăng ở trang Hồn Quê cho biết ông lấy truyện Kiều từ trang www.vhvn.com. Tôi đã vào xem thử (ảnh chụp màn hình). Có vẻ như trang đó hiện nay không còn liên quan gì đến văn học Việt Nam nữa. Nhưng ngay cả khi trong quá khứ nó từng là một trang WEB nghiêm túc thì cũng chưa thấy ai ngoài Nguyên Văn Tuấn dùng văn bản ở đó để nghiên cứu, không một chút hoài nghi về chất lượng văn bản.
Có vẻ như tác giả mặc nhiên xem Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nguyễn Bính của ông cũng chính là Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nguyễn Bính mà người đọc ông đang sử dụng. Đây là một trong những lỗi nghiêm trọng nhất của bài viết, cho thấy người viết nhận thức rất đơn giản về các lĩnh vực hữu quan (văn bản học, Kiều học và thống kê ngôn ngữ học).
Như một đứa trẻ chỉ biết đếm 1, 2, 3, 4...mà không biết phải đếm cái gì, Nguyễn Văn Tuấn chọn vấn đề nghiên cứu bằng cách đếm những hiện tượng hoàn toàn vô giá trị đối với tri thức Kiều học. Đo độ dài của từ tính bằng số lượng ký tự là một vấn đề rất có ý nghĩa đối với người nghiên cứu chữ Quốc Ngữ  về phương diện ngôn ngữ học cũng như tin học. Nhưng người nghiên cứu Truyện Kiều đếm số ký tự ở từng từ để làm gì? Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm, sau đó các nhà in, nhà nghiên cứu, mỗi người phiên âm một phách. Cùng một bản chữ Nôm có mấy cách ghi bằng chữ Quốc Ngữ là YM NHIỀM / YM NHÌM / IM LÌM / ÊM ĐỀM, thế thì độ dài của mấy từ ấy phải đếm làm sao? Chuyện văn bản học đã đề cập ở trên rồi, không nhắc lại nữa, tôi chỉ hỏi thêm một câu: những sai biệt đó có ý nghĩa gì không?
Các kết quả mà Nguyễn Văn Tuấn coi là khá thú vị đều rất vô duyên:
Thứ nhất, một điều khá thú vị là, tính trung bình, những chữ trong tiếng Việt chỉ có 3,4 mẫu tự.  Chữ dài nhất của ta cũng chỉ có 7 mẫu tự  (chữ Nghiêng)!  Trong khi đó, trong tiếng Anh, tính trung bình, mỗi chữ dài đến 4,6 mẫu tự, và có chữ dài hơn 10 mẫu tự.  Điều thú vị thứ hai là độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation) của từ tiếng Việt chỉ 0,93, rất thấp so với độ lệch trong tiếng Anh là 2,6.  Điều này có ý nghĩa gì?  Theo nhà thần kinh – tâm lý học (neuropsychologist) S. Dehaene thuộc Viện nghiên cứu y khoa Pháp (Paris) thì người nào dùng chữ ngắn thường có khả năng nhớ các con số lâu hơn.  Chẳng hạn như người Tô Cách Lan (Scotland) có tên của những con số dài hơn, và thường có khả năng tính toán [tính trung bình] thấp hơn, người Anh. 
 Nếu thuyết tương quan giữa độ dài của từ ngữ và năng khiếu tính toán là đúng, ta cũng có thể giải thích một phần tại sao trẻ em người Việt tương đối có năng khiếu về số học khá hơn trẻ em người Tây phương chẳng hạn.
Tôi không dám thắc mắc gì về Dehaene. Tôi chỉ hỏi lại Nguyễn Văn Tuấn một câu đã hỏi: Nguyễn Du viết bằng chữ Quốc Ngữ sao? Khi nào gặp riêng Dehaene, tôi sẽ xin hỏi thêm một câu: Dân Nga có phải là giống dân dốt toán nhất thế giới? Hy vọng nhờ lời giải đáp đó mà có thể biết được tại sao dân Tàu cần dùng chữ pinyin trong khi dân Nhật dù có chuyển qua hệ chữ romaji cũng nhất định không thể giỏi toán bằng người Việt chúng ta
Về kết quả thứ hai:
Thứ hai, những khác biệt về mức độ phân phối các biến thể câu 6 và 8 chữ trong thơ giữa ba nhà thơ có thể cho ta một nhận xét chung là so với Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính là nhà thơ thích thanh bằng.  Thực vậy, nếu tính theo số từ-duy-nhất, thơ lục bát của Nguyễn Bính dùng đến 55% từ thanh bằng, 11% cao cao hơn Kiều (44%) và 6% cao hơn Lục Vân Tiên 
(49%).  Xác suất mà mức độ khác biệt này do các yếu tố ngẫu nhiên chỉ 0.001 phần trăm.  Nói cách khác, xu hướng dùng từ thanh bằng của Nguyễn Bính có thể là một thói quen có ý thức, có hệ thống, chứ không phải do yếu tố ngẫu nhiên gây ra.
Việc so sánh số từ duy nhất (hapax) cũng như tất cả các so sánh từ trắc học khác chỉ có thể thực hiện được nếu các khối văn bản có độ dài bằng nhau. Không ai nghiên cứu từ trắc học mà không biết tỷ trọng của khối hapax trong vốn từ vừa phụ thuộc vào độ dài văn bản, vừa là một yếu tố phong cách. Do đó để nghiên cứu phong cách, người ta cần trung hòa ảnh hưởng của độ dài văn bản. Sai lầm căn bản về phương pháp chỉ có thể dẫn đến những kết quả sai lệch, ngoài mục đích tán nhảm, không dùng vào được việc gì khác.
Kết luận thứ ba cũng nhảm nhí nốt:
Thứ ba, phân tích sự khác biệt về nguyên âm và phụ âm giữa ba nhà thơ trên cũng cho thấy một vài khuynh hướng đáng chú ý.  Chẳng hạn như về nguyên âm bổng (tức những i, e, và ê) không có sự khác biệt nào giữa ba nhà thơ (khoảng 20% đến 21%).  Nhưng những chữ có nguyên âm trầm (u, o, ô) chiếm đến 35% từ ngữ trong thơ Nguyễn Bính, và đây cũng là một khác biệt có ý nghĩa thống kê (chứ không phải ngẫu nhiên) so với hai tác phẩm Kiều và Lục Vân Tiên (khoảng 30 đến 31%).
Để cho đỡ nhảm, có thể ghi rõ là Nguyễn Bính trong khối văn bản ngắn ngủn đang xét so với Nguyễn Du trong quyển truyện Kiều dài gấp nhiều lần mà Nguyễn Văn Tuấn có trong tay, thay vì chỉ viết rất gọn và rất khái quát là Nguyễn Bính và Nguyễn Du. Nhưng ngay cả khi đã chữa lại như thế, vẫn còn nhảm thảm hại do Nguyễn Văn Tuấn không biết chữ và âm khác nhau thế nào:
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, nguyên âm được chia ra làm hai loại trầm và bổng tùy theo độ khép hay mở của môi khi phát âm. Những nguyên âm này có thể tóm tắt như sau (7):
Bổng Trung Trầm
Khép i ư u
Trung ê ơ/â oâ
Mở e a/ă o
Phụ âm cuối trong tiếng Việt cũng có thể chia thành hai nhóm: vang và tắc. Phụ âm vang gồm có m, n, nh, ng; và phụ âm tắc gồm: p, t, ch và c. Những chữ sau đây (gạch dưới) được xem là có dùng nhiều nguyên âm mở và phụ âm vang (7):
...
Trong số 22.778 chữ trong Truyện Kiều, có 13.963 chữ (hay khoảng 61%) có thể phân loại nguyên âm trầm-bổng. Tính trên tổng số 13.963 chữ, có khoảng 21% chữ có nguyên âm bổng, 31% chữ có nguyên âm trầm, và 48% chữ có nguyên âm "trung bình". Phân tích theo độ khép-mở của môi cho thấy khoảng 47% chữ có nguyên âm mở, và chỉ 21% chữ có nguyên âm khép. Tất cả những phân phối này rất tương đương với phân phối trong Chí Phèo (xem Bảng thống kê số 4).
Tôi không thắc mắc nhiều về chuyện thuật ngữ cũng không hỏi tại sao ông Nguyễn Văn Tuấn theo Nguyễn Phan Cảnh mà không theo người khác, vì biết rằng nếu có hỏi, chắc chắn sẽ chỉ nhận được một câu trả lời duy nhất là ông không biết các tác giả ấy và các thuật ngữ ấy khác nhau thế nào. Tôi chỉ hỏi ông Nguyễn Văn Tuấn một câu: ua trong từ mua là mấy âm? Xem cách ông mô tả, tôi đoán là ông đếm thành hai âm.
Nguyễn Văn Tuấn thực ra chỉ có ý định viết một bài phiếm đàm. Đôi chỗ ông phang bâng quơ kiểu “Có người cho rằng...”. Trong câu chuyện phiếm, điều này hoàn toàn chấp nhận được. Ở một công trình khoa học nghiêm túc, người đọc cần biết tên của “người cho rằng” và các thông tin liên quan đến ý kiến của người đó (tựa sách, năm xuất bản, số trang...). Về điểm này Nguyễn Văn Tuấn không có lỗi gì. Lỗi là ở nhà xuất bản GiáoDục đã tự đánh mất uy tín học thuật khi gom vào một bộ sách đồ sộ đủ mọi ý kiến thượng vàng hạ cám, từ Nguyễn Văn Tuấn lên đến Đào Duy Anh, Cao Xuân Hạo...
Nguyễn Văn Tuấn đã rào đón chân thành nhận là ông chỉ mạo muội làm một vài phân tích thống kê. Khi ông đưa bài viết lên mạng, người ta thấy đó đúng là một công việc hết sức mạo muội, không chê vào đâu được. Nhưng khi bài viết đó lại được nhà xuất bản Giáo Dục đưa vào một tác phẩm tham khảo thì điều mạo muội trở thành một sự tắc trách. Và đó là lý do tại sao tôi viết bài phản biện muộn màng này. Mong từ nay không còn dịp đọc Nguyễn Văn Tuấn bàn về thống kê văn chương.