Showing posts with label khoa bảng. Show all posts
Showing posts with label khoa bảng. Show all posts

Wednesday, 23 April 2014

Vẫn chưa qua cái thời sợ hãi vu vơ...



Luận văn của Nhã Thuyên nhắc tôi nhớ tới một thời tưởng chừng đã xa.
Năm 1998, khoảng tháng 8, tôi ra bảo vệ luận án cấp cơ sở (từ ngữ cũ gọi là bảo vệ thử). Khi một trong những người giới thiệu luận án (từ ngữ cũ gọi là phản biện) là thầy Trần Ngọc Thêm phát biểu đến đoạn:
-Tiếng là thống kê ngẫu nhiên nhưng chẳng có gì là ngẫu nhiên. Anh ấy đưa vào đếm cả Nỗi Buồn Chiến Tranh. Thiếu gì tác phẩm mà phải dùng một tác phẩm có vấn đề về chính trị? Anh ấy thích quyển ấy thì anh ấy đếm chứ không phải là ngẫu nhiên.
Thầy Huỳnh Bá Lân, trưởng phòng đào tạo sau đại học, quên cả xin phép hội đồng, lập tức đứng dậy, chém tay, giọng hùng hồn:
-Nếu tác phẩm có vấn đề về chính trị thì dứt khoát phải đưa ra.
Tôi không trả lời câu hỏi của thầy Thêm. Trả lời cách nào cũng không ổn. Thực sự là không có cách trả lời ổn thỏa trong vòng vài phút, vì tất cả những gì liên quan đến phương pháp thu thập ngữ liệu đã được trình bày thành nội dung của một chương luận án (chương 2). Thầy Nguyễn Đức Dân, người hướng dẫn luận án, đứng lên bênh, đại ý là nguyên tắc ngẫu nhiên vẫn được bảo đảm nếu tổ chức thống kê với quy mô thế nào, thế nào, theo cách phân tầng, phân lớp thế nào, thế nào...., thực chất là tóm tắt lại một phần nội dung chương 2 cho cử tọa không có văn bản luận án trong tay.  Nhưng thầy không nói gì chuyện Bảo Ninh cả.
Bốn tháng sau tôi nộp lại luận án đã sửa chữa theo các ý kiến của hội đồng cấp cơ sở. Thầy Huỳnh Bá Lân, sau khi kiểm tra đầy đủ chữ ký của các vị giáo sư có liên quan, còn cẩn thận hỏi:
-Em bỏ cái tác phẩm có vấn đề về chính trị rồi phải không?
Tôi cười:
-Thầy yên tâm. Em bỏ ra ngoài rồi.
Thầy Lân cũng cười, hiền lành:
-Em làm vậy là đúng. Thiếu gì  tác phẩm cho mình nghiên cứu. Đừng....[khá dài, quên rồi].
Bản luận văn đó ra Hà Nội không gặp vấn đề gì về chính trị với các phản biện kín (sau này biết là các thầy Nguyễn Thiện Giáp và Đào Thản) trong khi một luận án khác cùng trường viết về quan hệ Việt Úc bị phản biện kín đòi bác vì phản động (nghe nói ông thầy của chị H. phải bay ngay ra Bắc để giải trình ; rồi cũng qua, tức là không có gì phản động). Tháng 8-1999 tôi được phép bảo vệ cấp nhà nước (từ ngữ cũ là bảo vệ chính thức).

Mười sáu tháng sau tôi bảo vệ một luận án khác ở Pháp. Luận án có năm chương. Chương thứ ba viết về các đặc tính thống kê của từ (caractères statistiques du mot) và một số đoạn trong các chương tiếp theo sử dụng ngữ liệu là quyển Nỗi Buồn Chiến Tranh. Bài La collocation et la notion d’intégrité formelle du mot (http://tutrachoc.blogspot.com.au/2014/04/la-collocation-et-la-notion-dintegrite.html) là một đoạn trích từ chương 3 của luận án đó, lẽ ra đã được công bố sớm hơn ở Việt Nam nhưng lại được đem đi tính thành tích cho đại học Pháp. Chung quy chỉ vì mình hèn.

Phản biện luận án là các ông Pierre Lafon, tác giả của mô hình siêu bội mà tôi vận dụng ở chương 3 của luận án, và Nguyễn Phú Phong. Tôi không có hân hạnh quen biết hai vị trước ngày ra bảo vệ, nhưng ở hội đồng đó tôi có niềm tin là mình không bị chụp cho cái mũ phản động, cái niềm tin mà tôi chưa từng có khi ra trước một hội đồng gồm toàn các thầy đã dạy mình suốt bao nhiêu năm ở Việt Nam. Ở Pháp muốn đếm từ trong một tác phẩm như Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, không nhất thiết phải là một người dũng cảm, càng không cần có tư chất của một kẻ nổi loạn. Họ chỉ cần mình... biết đếm.

Tuesday, 22 April 2014

Thẩm định bài thẩm định của Phan Trọng Thưởng

(http://vanviet.info/van-de-hom-nay/tham-dinh-bai-tham-dinh-cua-phan-trong-thuong/)



Bài Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn của Phan Trọng Thưởng (http://vanvn.net/news/14/4614-pgsts-phan-trong-thuong--de-hieu-ro-hon-thuc-chat-cua-mot-luan-van.html) được giới thiệu là toàn văn bản nhận xét phản biện của PGS.TS Phan Trọng Thưởng tại Hội đồng thẩm định luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập.

Bài viết đó giống với tất cả các bài báo lề phải từ giữa năm 2013 đến nay về Nhã Thuyên (Đỗ Thị Thoan) và luận văn của cô. Gọi nó là bản nhận xét phản biện e có phần không thích hợp.

Phản biện luận văn không phải là moi móc những chỗ mình thích/không thích trong luận văn của người ta ra để phán đúng/sai. Anh có thể bày tỏ sự yêu/ghét của mình ở chỗ khác (báo Nhân Dân chẳng hạn), nhưng khi làm người phản biện phải tỏ ra khách quan, không bênh, không bỏ ai. Anh biết chê Đỗ Thị Thoan (tức Nhã Thuyên) mượn luận văn làm chỗ cổ súy (sic) cái này, chống đối cái kia. Tại sao ở bài phản biện luận văn anh lại cho mình quyền thể hiện sự tôn sùng của cá nhân anh dành cho nhân vật này, chủ nghĩa nọ?

Phản biện luận văn có nhiệm vụ chỉ ra cho tác giả luận văn thấy anh/chị ta đã làm/chưa làm được gì so với yêu cầu đề ra cho luận văn. Phan Trọng Thưởng chỉ làm mỗi một việc là trích dẫn và/hoặc tóm tắt luận văn rồi phán:
Với quan điểm lựa chọn như trên, có thế nói luận văn đã tập trung nghiên cứu một hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm không chỉ mang ý nghĩa văn chương đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động.
...
Đó là những luận điểm sai trái mang tính kích động chính trị rõ rệt.
...
[Tóm lại, đây là chương được xem như cơ sở lý thuyết, như là khung lý luận của luận văn.] Về thực chất đây là một luận văn chính trị trá hình, văn chương chỉ là cái cớ.
...
Đây là một luận điểm mang tính chất kích động rõ rệt.
Tất cả các nhận định đó đều (rất) có thể (rất) chính xác, nhưng giáo sư đại học làm nhiệm vụ phản biện luận văn không (được phép) chọn cách diễn đạt ấy.

Thứ nhất, giáo sư đại học không có quyền dùng các từ ngữ miệt thị, mạt sát sinh viên cho dù trong thâm tâm rất muốn làm điều đó. Để tránh gây tranh cãi/kiện cáo lôi thôi, hãy viết là Tôi không tán thành điểm này, điểm nọ (nếu muốn nhận trách nhiệm cá nhân) hoặc Điểm này / điểm nọ không đáp ứng các yêu cầu A, B, C... của quy chế / luật X, Y, Z...(nếu cần viện dẫn uy quyền từ đâu đó). Tác giả luận văn không có quyền trình bày những luận điểm mang tính chất kích động rõ rệt thì người phản biện luận văn cũng phải điềm đạm giữ đúng luật ấy. Hạ bút phê được một câu Về thực chất đây là một luận văn chính trị trá hình, văn chương chỉ là cái cớ chính là mở đường cho người ta dùng lại câu ấy, giọng ấy với mình, không cần phải kiêng nể gì.


Thứ hai, giáo sư đại học ở các nước văn minh không chơi trò quy chụp của Hồng Vệ Binh Trung Hoa: Mày nói như thế như thế, tức là mày muốn như thế như thế ; mày thích cái này, mày sống ; mày ghét cái kia, mày chết! Các chú Hồng Vệ Binh suy nghĩ giản đơn như thế thì được. Giáo sư đại học thì chớ, thiên hạ cười cho thối mũi. Nếu có thể căn cứ vào câu chữ để xét đoán ai thích gì, ai ghét ai thì tài quá, đáng kính phục quá, nhưng đó không phải là việc của giáo sư phản biện luận văn. Việc của phản biện luận văn chỉ là kiểm tra xem câu ấy, chữ ấy phù hợp đến mức độ nào (hay không phù hợp chút nào) cho việc giải quyết (những) nhiệm vụ mà luận văn đã đặt ra.

Sau cùng, phản biện luận văn là phản biện luận văn, không phản biện sinh hoạt đời tư, bên lề, quá khứ, vị lai của tác giả luận văn. Những việc Nhã Thuyên làm sau luận văn (rất) có thể có mối liên hệ chặt chẽ với bản luận văn đó, nhưng không ai thuê mượn ông Phan Trọng Thưởng tìm hiểu, đánh giá các hoạt động đó. Người phản biện chỉ làm việc trên văn bản được hội đồng trao phó (đôi khi không biết cả tác giả là ai). Không người phản biện nào căn cứ vào những hoạt động bên ngoài văn bản đó để viết nhận xét, đánh giá luận văn. Nhưng đoạn cuối của bài phản biện ký tên Phan Trọng Thưởng lại gồm toàn những tình tiết giật gân mà người đọc không thể tìm thấy đâu trên văn bản luận văn.  
(http://junglepoetry.wordpress.com/2014/04/20/can-minh-bach-van-de-nhan-tien-nuoc-ngoai-va-du-an-nhung-tieng-noi-ngam/)