Wednesday, 19 August 2015

Kiểm dịch TRẦN ĐÌNH SỬ (Chu Giang Nguyễn Văn Lưu)


Phát biểu tại Hội nghị Tam Đảo chiều 4-6-2013 và trong ba bài báo liên

tiếp các ngày 16 và 17-7-2013, GS TS Trần Đình Sử quyết liệt bảo vệ


Luận văn của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) và những người liên quan -


Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn. Cho rằng họ làm


việc đúng qui chế, phải được qui chế bảo vệ, nếu không sẽ là phá hoại sự


nghiệp đào tạo trên đại học của nước nhà (!). Xem Luận chiến văn


chương. Quyển Ba. Chu Giang. NXB Văn học. H. 2015. Mục Kiểm dịch


Trần Đình Sử. Sự quyết liệt với tinh thần khoa học trách nhiệm hay do


đồng bệnh tương lân có tật giật mình. Nay xem xét Luận án Tiến sĩ: Lý


thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại. Chuyên


ngành Lý luận văn học. Mã số 62. 22. 32. 01 của Trần Ngọc Hiếu do GS.


TS Trần Đình Sử hướng dẫn khoa học. Bảo vệ năm 2012 tại Đại học Sư


phạm Hà Nội thì rõ ràng GS TS TĐS ở vào trường hợp sau, do đồng


bệnh tương lân. Vì vậy phải tiếp tục kiểm dịch đối với cặp bài trùng này:


Người hướng dẫn khoa học và người thực hiện luận án.


KIỂM DỊCH TRẦN ĐÌNH SỬ

CHU GIANG


Trước hết kiểm dịch Luận án.

Việc này không khó. Vì đã có hướng dẫn của Đỗ Thị Thoan: "Cảm ơn

thạc sĩ Trần Ngọc Hiếu vì sự sâu sắc đa dạng trong các bài viết về thơ ca


và lý thuyết chứa đựng nhiều tiềm năng kích thích và gợi mở quí báu..."


(Lời cảm ơn. Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn Vị trí của kẻ bên lề và


thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hoá. Người hướng dẫn


khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Bình. Bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hà Nội


năm 2010)

Tiềm năng kích thích và gợi mở đó được Trần Ngọc Hiếu phát triển, thể

hiện trong Luận án này. Luận án Lý thuyết trò chơi... (từ đây xin viết tắt là


LTTC) có ba chương:

Chương I: Trò chơi - lý thuyết trò chơi trên tiến trình vận động
Chương II: Trò chơi như một khuynh hướng trong thơ Việt đương đại.
Chương III: Một số mô hình trò chơi trong thơ Việt đương đại.
Ở Chương I, thầy trò Trần Ngọc Hiếu (TNH) rất một công đôi việc. Vừa

khoe được kiến thức về lý thuyết trò chơi từ cổ đến kim vừa khẳng định trò


chơi là một tác nhân thay đổi xã hội. Từ Plato, Aristot... đến Roland


Barthes, Bakhtin và hậu hiện đại như Derrida... cho rằng "mọi văn học đều


là trò chơi" và như Bakhtin thì sự chơi "có khả năng phá vỡ những hình


thức bền vững của ý thức và hành vi xã hội. Bằng cách chơi với (C.G.


nhấn mạnh) những tư tưởng được đặc quyền, tưởng tượng ra những tư


tưởng đối lập với chúng và đứng về phía đối lập ấy, một nhà tư tưởng có


thể biến một trò chơi của sự "giả định/ nếu như (a game of what if) thành


một phương tiện trực tiếp tạo ra sự thay đổi xã hội (LA. Tr15-16). Và Sự


chơi vượt ngưỡng (transgressive play) vừa là một tác nhân hiệu lực dẫn đến


sự đổi thay xã hội vừa là bản thân sự đổi thay xã hội" (LA. Trg 16). Từ


đó, tác giả luận án đưa ra "tuyên ngôn lý luận": "chúng tôi quan niệm trò


chơi như một xung lực tinh thần nhiều hơn, tức là tương đương với từ


"play" trong tiếng Anh. Từ xung lực của sự chơi này, những trò chơi


(game) mới sẽ được hình thành. Như thế, cũng có thể suy ra sự chơi là


một cội nguồn phát sinh của các hiện tượng văn học, vốn được  xem như


các trò chơi" (L:A. Trg 25).

Như thế, tư tưởng của Luận án không có gì mới mà chỉ nhại lại, diễn đạt lại

tư tưởng của các học giả nước ngoài. Và không đúng với thực tiễn. Sự


chơi, trò chơi là một thực tế, một phần hoạt động của con người. Nhưng


xem mọi văn học đều là trò chơi. Mọi hoạt động đều là trò chơi, là cội


nguồn của văn học, là điên rồ! Nhưng ở đây mục đích không đơn thuần


nghiên cứu trò chơi, mà đáng quan ngại hơn: chơi (theo Derrida) chính là


động thái phá vỡ sự hiện hữu  (LA. Trg 17). Ở phần Phụ lục, càng rõ hơn:


Sự chơi và trò chơi như là phương tiện để phá vỡ các tôn ti và các địa vị


đặc quyền vốn áp đặt đặc quyền lên các cá nhân trong xã hội phương Tây


(PL. 7). Và "bản chất của mọi hoạt động đều là chơi" (Kostas Axelos.


PL.12). Sự chơi ở đây có mục đích xã hội rõ ràng: Sự chơi vượt ngưỡng


vừa là một tác nhân hiệu lực dẫn đến sự đổi thay xã hội đồng thời vừa là


chính bản thân sự đổi thay xã hội. (PL. 18) rằng trò chơi của sự phát tán


(play of dissemination) mà trong trò chơi này, bất cứ cái gì cuối cùng cũng


trở nên xói mòn bởi sự vượt ngưỡng (PL 20)

Thầy trò tác giả Luận án tỏ ra vọng ngoại có mục đích về lý thuyết trò

chơi để làm cơ sở, bàn đạp, điểm tựa cho việc khẳng định giá trị, đề cao


thơ Trần Dần, Lê Đạt và thơ của nhóm Mở Miệng ở các chương sau.

Khi dẫn lại tư tưởng của các tác giả nước ngoài cần phải phân tích cơ sở

xã hội lịch sử - văn hoá của các luận điểm đó. Hoàn cảnh xã hội lịch sử -


văn hoá ở Việt Nam hiện nay có tương đồng với các lý thuyết đó không?


Chỗ nào có thể tiếp thu. Chỗ nào là không thể. Luận án hoàn toàn lẩn


tránh vấn đề này. Điều này sẽ được nói rõ ở phần sau, về trường hợp thơ


Trần Dần, cũng như Mở miệng và các thứ rác rưởi khác.

Biết nhiều về lý luận bên ngoài cũng tốt và cần thiết. Nhưng thực tiễn văn

hoá dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý


thuyết bên ngoài về sự chơi và trò chơi.

Hãy quan sát đời một con người, từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt, sự

chơi và trò chơi của nó và đối với nó như thế nào? Mỗi giai đoạn, mỗi


hoàn ảnh... có những trò chơi gì. Từ cá nhân đến cộng đồng, dân tộc. Trò


chơi của người Việt trong văn hoá trong văn học nghệ thuật như thế nào?


Nếu biết tổng kết, khái quát sẽ có được một lý luận không kém gì của thiên


hạ. Dân gian ta nói gì? Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân cũng trải


Đồng Nai cũng từng. Cụ nghè Trần Bích San có câu Văn vô sơn thuỷ phi


kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài. Ông bà ta nói: Nghề chơi cùng


lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn... là một lý thuyết cực kỳ sâu sắc


về trò chơi.. Truyện cười, truyện tiếu lâm, Trạng Quỳnh - Xiển Bột, Hồ


Xuân Hương là những mô hình mẫu mực trong trò chơi văn chương.


Không biết trên thế giới có cái truyện Thầy đồ ăn bánh rán không nhỉ?


Hoặc na ná như thế. Xin các quí Thầy thông thạo ngoại ngữ chỉ dẫn cho.

Cái nguy hiểm của Lý thuyết trò chơi... mà thầy trò Trần Đình Sử - Trần

Ngọc Hiếu vận dụng là ở chỗ dùng trò chơi văn chương (trò chơi thơ, chơi


chữ nghĩa để giải trung tâm, giải thiêng, giải chính thống, giải trật tự hiện


hữu, giải truyền thống văn hoá lịch sử - như là một tôn ti, trật tự siêu


nghiệm.

Điều đó thể hiện ở các chương II và III. Trong hai trương này, không cần

phân tích dài dòng vì nó rất tương đồng với Luận văn của Đỗ Thị Thoan.


Chỉ phân tích một vài trường hợp để thấy được thâm ý rất lộ liễu  của thầy


trò Luận án.

Về Trần Dần: Khi xem Trần Dần chỉ trên văn bản thơ của ông là chưa đủ.

Cần phải nghiên cứu toàn diện đời sống và sáng tác của Trần Dần.

Chúng tôi kính trọng tuổi tác của Trần Dần, trân trọng tài năng của ông.

Nhưng có thể nói ông là con người vị kỷ cực đoan. Sáng tác của ông đúng


là những cơn rồ chữ trong một trạng thái tinh thần u uất, phẫn uất, tự trói


buộc giam hãm mình, triền miên trong tâm trạng đó. Suốt mấy chục năm


trời (từ sau Nhân văn - Giai phẩm - 1958) ông chỉ ngồi một chỗ tựa vào


bức tường đến thành hằn vết, chai rượu một bên, điếu cày một bên, nhìn


vào khoảng không nhưng thực ra là chìm vào những cơn rồ chữ.. Những


sự kiện của đời sống xã hội từ sau Nhân văn cho đến sau 1975, bom đạn


đêm Giáng sinh 1972 rồi trận Điện Biên Phủ trên không dường như không


lọt vào căn phòng của ông, ở phố Hội Vũ, cách ga Hàng Cỏ chỉ mấy trăm


mét. Phải hiểu như thế để cảm thông, thể tất về những trò chơi thơ chơi


chữ chơi âm của ông.

Luận án không đi vào chỗ này mà tâng bốc Trần Dần và trích dẫn những

chỗ chỉ làm cho hình ảnh Trần Dần thêm nhơ nhớp: "Nhoe nhoét. Toè toẹt


thi sĩ thịt chộn thịt nhào quết quệt bùn thịt lòng lọc bóc trong nuốt suốt...


Tôi dính nhem nhép mọi chỗ, vác hai chân thịt, quền quệt vệt phố, be bét


ki lô mét. Nhoè nhoẹt hết" (Thằng thịt. LA. 150) và những thứ như thế này:

tôi thíc thoả
ngoạ cắn/ nắn mím/ thím nách/ jạch phím/ jịm núm/ jụm sách/ lạch joác/

xoạc bóc... thì kệ cái tát/ bát sẹo/ lẹo vú/ bú đít/ lít nách/ jạch tóc/ móc


họng/ nọng thổ/ hổ jốn/ nọm nín/ mím ngực/ chực cắn/ nắn thẹn/ đẹn kén/


nén xác... (Jờ Joạc)

rồi lại thế này:
Truồng lẹm
Em ghem tôi bằng Ghẹm
Bằng Thẹm
Bằng Cửa Ngửa
Em Them tôi bằng Cửa Ngửa
Buồng cửa ngửa
Em Ghem tôi bằng Trắng Ngửa
Bằng LÔNG
Em Hông tôi bằng MÔNG
Bằng Âm Cụ Nụ
(Con Trắng LA. 150-151)
Trần Ngọc Hiếu cho đây là lối viết bật âm của Trần Dần là một hành động

mang tính chủ ý... Lối viết ấy đem lại cho người đọc một khoái thú mà


Phạm Thị Hoài gọi là, "sướng nôm hiện đại" (LA. 150)

Khoái thú thì tuỳ loại người đọc. Nhưng chủ ý của Trần Dần thì với những

Thằng Thịt, Con Trắng, Con Ụt cọt Ịt... nó "Trắng Ngửa" ra như thế này :


"Tức là con nữ kỹ sư truồng nằm jữa xé sử ký jao cấu trên tôi và thằng


Truồng - ở các mông đít-ism  lỗ ngực jây truyền nách mặt lẹm cổ họng"


(Jờ Joạc)

Có thể nói toàn bộ tư tưởng và văn thơ của Trần Dần chơi thơ rồ chữ nằm

trong một câu gồm 33 chữ ấy. Dường như là Trần Dần mượn câu chữ để


trả thù đời giải toả nỗi uất hận và tự giam hãm trong bấy nhiêu năm trời.


Chỗ này Phùng Quán, Thanh Châu... cao hơn Trần Dần về nhân cách. Có


thể Phùng Quán không tài con âm con chữ bằng Trần Dần nhưng ông đã


vượt qua những uất hận đau buồn cá nhân, sống hết mình với cuộc đời,


sống như Tuổi thơ dữ dội, như Ba phút của sự thật. Cụ Thanh Châu tự gác


bút từ đạo đó nhưng không thù hận. Những năm cuối đời Cụ còn bay từ


thành phố Hồ Chí Minh ra dự Đại hội Nhà văn, tôi nhớ, ở Hội trường Ba


Đình năm ấy. Và cái trò chơi thơ vượt ngưỡng như Chân dung nhà văn Cụ


cũng rất phản đối, mặc dù Xuân Sách là lớp đàn em, là đồng hương bên


ngoại, lại cùng họ Ngô (Xem Luận chiến văn chương. Sđd. Mục Tư liệu về


xuất bản Chân dung nhà văn). Trần Dần tài năng lắm. Nhưng xé sử ký rồi


jao cấu ở các mông đít- ism thì không còn gì có thể nói được nữa. Jao


cấu ở mông đít... thì là sự thường trong đám đồng tính nhưng Jao cấu ở


các mông đít-ism (các chủ nghĩa mông đít...) thì xung lực tinh thần qua


trò chơi đã trở thành năng lượng khủng khiếp phá vỡ cái hiện hữu...

Thầy trò tác giả Luận án tỏ ra tinh tường khi vận dụng Lý thuyết trò chơi...

vào trường hợp Trần Dần. Quả thật, như nói trên, những trò chơi thơ tự


nhận là rác rưởi tha ma nghĩa địa của nhóm Mở miệng đặt bên cạnh Trần


Dần thì đúng là đặt con báo gấm bên cạnh con mèo hen. Như Bùi Chát


trong đoạn sau:

Hán Việt cao sang thanh khiết hơn
 thuần Việt, tục truyền là rứa. Có người
 nọ, vì không muốn thơ mình thấp cấp
 khi đề cập đến chuyện hứng tình, sau
 nhiều ngày đắn đo suy nghĩ, khứa ta
 liền hạ bút: vào lúc 5 giờ sáng
 mỗi ngày, tôi thường bị nứng cái dương
 vật (thay vì cặc) của mình... túm lại,
 những lúc như vậy: tôi phải làm cái
 mẹ gì trước bình minh?
("Tính tình tinh: Bùi Chát. LA. Trg 184)
Mặc dù Luận án giành nhiều trang cho Lê Đạt và nhóm Mở Miệng v.v...

Nhưng như nói trên, chỉ một Trần Dần, bạn đọc đủ hình dung được cái


khuynh hướng trò chơi trong thơ Việt hiện đại nó như thế nào. Mặt khác,


thực hành thơ của nhóm Mở Miệng mà Nhã Thuyên rất đề cao, chúng tôi


đã nói đến trong bài Luận văn của Đỗ Thị Thoan (Luận chiến văn chương.


Quyển Ba), nay không nhắc lại.

Về sự chơi và trò chơi, nói lý thuyết đến bao nhiêu cũng không thừa, dù có

dẫn cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển cũng thế. Nhưng chỉ cần


nhớ: Nghề chơi cũng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn cũng đủ.

Luận án Tiến sĩ phải theo đúng qui định số trang số chữ, để chứng tỏ khả

năng tư duy, diễn đạt tư tưởng... Chúng tôi chú ý đến tư tưởng trung tâm


của Luận án, tức quan điểm của người nghiên cứu như thế này: Những trò


chơi này (trò chơi thơ) mang đậm dấu ấn cá nhân của những tác giả tiên


phong thể nghiệm với kỹ thuật hình thức tu từ độc đáo, dị biệt. Song giá trị


lớn nhất của chúng không đơn thuần nằm ở những phát kiến hình thức, kỹ


thuật; quan trọng hơn, chúng gợi ra những khả thể tồn tại khác của thơ,


những cách thức thể nghiệm khác, bất chấp những qui tắc tiền lập. Khuynh


hướng trò chơi muốn phá vỡ những khuôn hình bền vững của thể loại, mở


đường cho sự đa dạng hoá các ý niệm, định nghĩa về thơ nhưng cũng


chính vì thế khiến cho thơ đương đại trở nên bất định hơn bao giờ.


Thường bất định dễ làm nảy sinh bất an. Nhưng trong ngữ cảnh của thời


đại hôm nay, khi con người dường như khó có thể còn đủ ngây thơ để tin


vào những tất định, sự bất định lại là cái duy nhất con người có thể trải


nghiệm. Cái bất định ấy, phải chăng, cũng chính là biểu hiện đích thực của


cái sống động? (L.A. Trg 191)

Từ trò chơi thơ đã tiềm nhập ngay vào cuộc sống xã hội. Không còn tin

vào cái tất định phải trải nghiệm cái bất định. Cuộc sống bây giờ như thế


đấy. Cho nên chức năng lật đổ, phá vỡ của chúng (trò chơi) thì lặp đi lặp


lại đến bất tận. Trò chơi là chiến lược, là tiến trình và mục tiêu (PL.5)

Luận án này toát lên tình trạng bất an bất định muốn chống lại, giải cái

trung tâm chính thống truyền thống, phá vỡ cái hiện hữu, đạp lên cái tiền


lập... Nhưng để đi đến cái gì? Những người thực hiện Luận án đã không trả


lời được, hoặc không muốn, mà ngầm hiểu: hẵng phá vỡ cái hiện hữu đi


đã!

Đấy là tư tưởng nguy hại của Luận án này. Trong khi xã hội muốn hướng

hoạt động văn hoá, văn học vào xây dựng con người, xây dựng các quan


hệ xã hội theo hướng nhân văn Chân - Thiện - Mĩ thì Luận án này lại khẳng


định, đề cao khuyến khích xu hướng ngược lại: Phá vỡ tất cả! Lật đổ và


phá vỡ! Luận văn của Nhã Thuyên đã là quá đáng lắm rồi. Đến Luận án


này thì không hiểu thực chất Khoa Ngữ văn ĐHSPHN là gì? Rất mong


được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giải thích cho.


 Hà Nội 14-7-2015


Nguồn: Báo Văn Nghệ TPHCM


***

 CHU GIANG tiếp tục kiểm dịch TRẦN ĐÌNH SỬ
Cái bất cập lớn nhất trong phương pháp học thuật của Giáo sư Trần Đình

Sử là ở chỗ diễn giải lại. Đọc thiên kinh vạn quyển mà chỉ làm được cái


việc diễn giải lại thì có khác gì đào, kép cứ theo vở của thầy tuồng mà diễn


giải lại. Và Giáo sư Trần Đình Sử đã diễn giải lại, theo tôi, là rất sai, trường


hợp lý thuyết ngoại biên của Bakhtin. Chỗ này, Giáo sư Trần Đình Sử tỏ


ra vào hàng kép nhất mà diễn giải lại cái vở của Bakhtin thôi. Hoàn toàn


không có tri thức gì mới và càng không có sự sáng tạo nên khi vận dụng


vào văn học Việt Nam hiện nay, khá là sai lầm nguy hiểm, như sự hướng


dẫn khoa học cho Trần Ngọc Hiếu, với tư tưởng giải trung tâm, đề cao, cổ


động cho cái ngoại biên, cho quá trình ngoại biên hóa đang diễn ra trong


văn học Việt Nam.




KIỂM DỊCH TRẦN ĐÌNH SỬ

(Tiếp theo kỳ trước)

  CHU GIANG


Về mọi phương diện, Luận án của Trần Ngọc Hiếu tệ hại nguy hiểm hơn


Luận văn của Đỗ Thị Thoan rất nhiều. Tác hại xã hội của nó là ở cấp độ


cao hơn. Song chúng tôi sẽ không đề nghị huỷ bỏ Luận án thu hồi học vị,


xem xét trách nhiệm của người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm


luận văn.

Nếu làm thế, thì còn gì là khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội nữa.

Vuốt má nể môi. Mía sâu có đốt nhà dột có nơi. Thôi thì chỉ mong “các


ông tí” nhanh nhanh lên để còn lau chùi bát đĩa đậy điệm đồ ăn giống


dựng. Nhà nghèo thực không dám phí phạm. Ấy là một lẽ. Còn một lẽ cao


sâu cảm động hơn là GS.TS Trần Đình Sử tuy thế, vẫn còn gắn bó với


trung tâm, với cái chính thống, với thể chế này lắm. Bởi Giáo sư vẫn tham


dự vào Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, năm 2014. Giáo sư lại


kính tặng tác phẩm dự giải cho nhà văn Dương Trọng Dật, ủy viên Hội


đồng Lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam để thêm phần hiểu biết tin


cậy. Nhà văn Dương Trọng Dật người Bắc, tỉnh Đông (Hải Dương) sau


chiến tranh định cư ở TP. Hồ Chí Minh. Đúng là hữu duyên thiên lý mới


tương ngộ được như vậy. Tuy không được cái giải gì, nhưng tấm lòng của


Giáo sư đối với Hội ta (Chu Giang cũng là hội viên), với chế độ ta, với nền


văn học cách mạng - xã hội chủ nghĩa của chúng ta vẫn còn sâu nặng lắm.


Nghĩ mà xem. Mâm cao cỗ đầy. Nhà hàng sang trọng. Trống ngược kèn


xuôi thiệp mời trang trọng mà khách khứa không thèm đến thì có nhục


không? Đằng này bữa cơm rau muối nhưng nặng tình nặng nghĩa. Được lời


như cởi tấm lòng. Chủ khách một lòng thành thực, rượu với bia tuy ít vẫn


thừa... Cho nên Hội ta tuy chưa được cái Noben nào nhưng đã hơn ngàn


lại hơn ngàn đang chờ vào, là người ta trông vào Giáo sư đấy. Quí hóa


lắm. Giải nào cho xứng. Trong các bài viết trước đây, có điều gì làm cho


Giáo sư không được vui lòng, mong Giáo sư mở lượng khoan dung thì kẻ


học trò này hân hạnh vô cùng. Từ nay, chỉ dám thưa với Giáo sư những


chỗ chưa được thông khi tiếp cận với tư tưởng của Giáo sư qua một khối


lượng trước tác thật là đồ sộ.

Nhìn vào danh mục Những tác phẩm chính của Giáo sư quả thật là choáng

ngợp. Trước một GS.TS. NGND hội viên Hội Nhà văn từ địa phương đến


quốc gia, tổng chủ biên, chủ biên, biên soạn, viết chung và dịch thuật biết


bao nhiêu là công trình... thì dám nói gì nữa chứ. Đọc đi ngắm lại, định


thần lại, mới thấy có một công trình biên soạn chung hay lắm, mà Giáo sư


quên mất. Xem trong Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại bản in lần thứ tư,


năm 2010 cũng không thấy. Đó là cuốn “Một thời đại văn học mới” (NXB


Văn học. H. 1987), Giáo sư có bài hay lắm. Xin trích một đoạn: “Con


người của nền văn học đó (văn học cách mạng) không thể nào khác hơn là


con người chính trị, con người được nhận thức thể hiện trong bản chất giai


cấp, trong các quan hệ của đời sống muôn vẻ, gắn liền với chính trị và


được đánh giá từ góc độ chính trị. Đó là điểm cách tân quan trọng nhất,


căn bản nhất của văn học ta cũng là đặc điểm chung căn bản của văn học


xã hội chủ nghĩa thế giới” (Một thời đại văn học mới. NXB Văn học, 1987,


tr.46).

Tôi nói hay là nói đến cái giá trị khoa học của nó. Không có bài luận của

GS thì ngay bây giờ cho đến các đời sau người ta không biết con người


Việt Nam hồi ấy nó như thế nào. Làm sao mà cắt nghĩa được những công


việc long trời lở đất kinh thiên động địa đến nỗi các ông Tây phải cuốn cờ


xách túi ra về. Cái con người giai cấp con người chính trị mà làm được như


thế chẳng đáng là con người hay sao? Nói thật lòng với GS chứ bây giờ tôi


lại ước mong những con người chính trị đó sống lại đông  thêm mạnh ra


trăm triệu người cùng chung một ý chí một niềm tin cùng hành động thì cái


đám quan liêu tham nhũng buôn gian bán lậu đạo chích đạo văn... còn


đường nào đất nào mà hoành hành. Con người cá nhân phong phú đa dạng


cũng hay, ai ai cũng là hoa hậu hoàn vũ, ước mơ cho lá rau má to bằng lá


sen... thì cuộc đời đẹp làm sao! Nhưng mà cứ như hiện thời, con người cá


nhân phong phú đa dạng con người tự do tự chọn... nó làm cho gia đình


và xã hội nát như tương bần. Chẳng nói xa xôi cứ nói trong ngành giáo dục


- đào tạo, trong nhà trường bây giờ từ mầm non mẫu giáo đến đại học cao


học siêu học... thật biết bao nhiêu cái buồn lòng. Chưa đọc thông viết thạo


đã phải chạy điểm chạy lớp chạy trường. Lên nữa thì chạy bằng chạy cấp


mua luận án bán luận văn ngay nách tường Bộ học... Thầy chẳng theo


được Di Tề. Học trò không biết chuyện Tăng Sâm, Phạm Sư Mạnh... Lạnh


nhạt với lý tưởng - ước mơ - nghĩa vụ, thay các điển hình người tốt việc tốt


bằng các thần tượng, các cảm giác mạnh... đã đưa lớp trẻ đến đâu? Vụ


thảm sát ở Bắc Giang năm trước, lại Bình Dương vừa rồi... man rợ khủng


khiếp quá. Nhà trường và các thầy nên xem lại sự giáo dục, sự truyền bá


truyền thụ kiến thức tri thức cho học trò đi. Cổng trường khắc câu Tiên


học lễ... Học trò nó bảo Tiên học phí... Bài Văn hóa và con người trong


thời hội nhập... in trên Văn nghệ Nghệ An, nay GS chọn vào sách, là xác


đáng, trúng cựa lắm. Tôi rất tán thành. Nhưng trong khung cảnh xã hội như


trên mà lại đề cao ngoại biên, đề cao, khuyến khích giải trung tâm, giải


chính thống, giải truyền thống, phá vỡ cái hiện hữu, cái tiền lập. Tất cả đều


đem ra làm vè, giễu nhại từ lãnh tụ anh hùng dân tộc danh nhân văn hóa


cho đến thuần phong mĩ tục... thì đưa xã hội đến đâu? Tự do sáng tạo mà


giễu cợt chớt nhả cá đối bằng đầu có giống Quát (Cao Bá Quát)... có như


Xương (Trần Tế Xương)... (LA. 109) rồi diệt cả Lục Vân Tiên, cả cụ


Chiểu (Đồ Chiểu), thơ chỉ cốt vần vè mà không thành một chút nội dung


nào lại có thể tôn vinh hay sao (LA. 180)? Ấy là chỗ rất bất cập của Giáo


sư. Nó chẳng xứng với một người làm lý luận chuyên nghiệp, một nhà khoa


học về đường lý luận (văn học) như Giáo sư tự nhận.

Những bất cập của Giáo sư về đường tri thức cụ thể nó nhiều lắm, thôi ta

chẳng nói. Mà đi tìm nguyên nhân của nó. Đó chính là phương pháp tư


duy, phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Giáo sư. Chỗ này cần


làm rõ, không phải chỉ vì Giáo sư, mà vì muôn ngàn Giáo sư trong tương


lai. Giáo sư chẳng qua chỉ là cái ví dụ cụ thể cái mẫu bệnh phẩm trong sự


kiểm dịch mà thôi.

Nay xin kiểm dịch sơ qua quyển Trên đường biên của lý luận văn học.

NXB Văn học. H. 2014. Tác phẩm tham dự Giải thưởng hàng năm của Hội


Nhà văn đã nói trên.

Không rõ trong Tuyển tập Trần Đình Sử, NXB Giáo dục. H. 2004, sự

trước tác của Giáo sư như thế nào, vì tôi chưa có hân hạnh được tiếp cận.


Nhưng sau 10 năm Giáo sư mới đưa ra cuốn Trên đường biên... mà Giáo


sư tự nhận Đây là cuốn sách của một người làm lí luận... trong hành trình


tự vượt lên mình. (Lời nói đầu. Viết ngày 10-6-2014 tại Hà Nội).

Cứ xem như thế thì sự trước tác ở đây còn phải nghiêm cẩn hơn cả Tuyển

tập... (năm 2004). Là cái dịp tự duyệt lại mình tự vượt lên mình thì một ý


tưởng, một câu một chữ càng phải nên thận trọng, thực sự là mình tự vượt


lên chứ không phải mình tự tụt xuống. Cho nên xin thưa với Giáo sư ba


điểm trong cuốn sách mới này: một về thái độ học thuật. Một về phương


pháp học thuật. Một về cụ thể học thuật.

Xin được tuần tự.
- Về thái độ học thuật:
Giáo sư viết: Các ý kiến của tôi chắc chắn khó tránh khỏi khuyết điểm,

mâu thuẫn hoặc chưa chín. Đó cũng là chuyện thường tình. Đây là câu


cuối cùng trong Lời nói đầu.

Thế là giáo sư kiêu ngạo quá. Trịch thượng quá. Xem thường khoa học,

xem thường bạn đọc quá. Có khuyết điểm ư, có chưa chín ư... đó là sự


thường tình, là chuyện thường tình nhé. Ăn được thì ăn xài được thì xài


không thì bỏ đó nhé. Sống mới chả chín. Đây chỉ có thế. Nó là chuyện


thường tình xưa nay. Rách chuyện.

Thưa giáo sư, một cá nhân không tránh khỏi được thiếu sót. Nó là thực tế.

Như một qui luật. Vì cá nhân là một người. Cái nhìn cái nghĩ của một


người làm sao bao quát hết cả. Làm sao bằng được muôn người. Cho nên


nó là sự thường gặp. Nhưng không vì nó là sự thường mà xem nó là


thường tình, không tỏ ra cẩn trọng. Nên người xưa thường mở đầu bằng


Phi lộ (lời dẫn trước), Lời thưa trước, Đôi lời này kia, và cuối bài, cuối


sách luôn tỏ ra khiêm nhường, thường dùng chữ cẩn chí, cẩn tự, lời cầu


mong được chỉ giáo, được bổ chính... Rằng “người viết tuy thế này thế


kia, vẫn không  tránh khỏi thế này thế kia... Mong được các bậc cao minh


chỉ giáo cho...”. Nói xa thì như thế, nói gần thì như nhà văn nhà giáo lão


thành Phạm Toàn trong lời giới thiệu cho Tập tiểu luận viết bằng tiếng


Pháp của cụ Phạm Thượng Chi quá cố, cũng dùng mấy chữ Phạm Toàn


cẩn tự ở cuối bài. Có đâu như Giáo sư, quẳng ra một câu Đó cũng là


chuyện thường tình rồi chấm hết. Trong học thuật mà thái độ như thế thì


rất khó tự vượt mình, vì cái gót Asin nó còn nặng lắm. Người xưa xem thói


kiêu ngạo là căn bệnh tệ hại nhất của kẻ sĩ cũng là có lý lắm (Xem Danh


ngôn Hán học. Trần Lê Nhân. NXB Văn học. H. 2008). Bây giờ thì càng


có lý.

- Về phương pháp học thuật:
Giáo sư viết: Tôi là người đã được đào tạo nhiều năm trong môi trường lý

thuyết cũ, bao nhiêu năm tuổi trẻ dành đọc các lý thuyết xơ cứng. May mà


tự biết tìm đọc các tinh hoa lí luận Liên Xô cũ của Mikhail Bakhtin, Dimitri


Likhachev, Jouri Lotman, tôi đã nhận thấy những hạn chế của lí thuyết Xô


Viết và tìm cách diễn giải lại, trước hết cho bản thân mình, sau cung cấp


cho bạn đọc tham khảo.

Tôi đã nhiều lần tham gia và chủ biên giáo trình lí luận cho các trường đại

học, đã cố gắng đưa vào các tri thức mới (Lời nói đầu. Trên đường biên...


Sđd., tr.8).

Cái bất cập lớn nhất trong phương pháp học thuật của Giáo sư là ở chỗ

diễn giải lại. Đọc thiên kinh vạn quyển mà chỉ làm được cái việc diễn giải


lại thì có khác gì đào, kép cứ theo vở của thầy tuồng mà diễn giải lại. Và


Giáo sư đã diễn giải lại, theo tôi, là rất sai, trường hợp lý thuyết ngoại biên


của Bakhtin. Chỗ này, Giáo sư tỏ ra vào hàng kép nhất mà diễn giải lại cái


vở của Bakhtin thôi. Hoàn toàn không có tri thức gì mới và càng không có


sự sáng tạo nên khi vận dụng vào văn học Việt Nam hiện nay, khá là sai


lầm nguy hiểm, như sự hướng dẫn khoa học cho Trần Ngọc Hiếu, với tư


tưởng giải trung tâm, đề cao, cổ động cho cái ngoại biên, cho quá trình


ngoại biên hóa đang diễn ra trong văn học Việt Nam.

Về lý thuyết ngoại biên của Bakhtin là vấn đề cũng dài dòng văn tự. Nhưng

cần phải đặt ra những vấn đề khi tiếp cận với thuyết của Bakhtin.

Về tư cách học thuật của Bakhtin là không hoặc chưa đáng tin cậy. Xem

Ngô Tự Lập trên Lý luận phê bình văn học nghệ thuật - Tạp chí của Hội


đồng LLPBVHNT TW - số tháng 5-2015 thì Bakhtin có nhiều khả năng là


một tay đại bịp. Tuy nhiên, phải chờ đợi thông tin ở các chuyên gia văn


học Nga. Biết đâu là ngược lại. Nhưng các trích dẫn của Giáo sư về


Bakhtin là chưa đáng tin cậy, thậm chí có chỗ theo chúng tôi, là giáo sư đã


diễn giải lại một cách ngô nghê, như câu này: Theo Bakhtin, biên giới


(đường biên, ranh giới, giới hạn, tiếp giáp, ngoại biên) không phải là vùng


khép kín, bất biến mà là nơi mở ra, tạo thành tính chất chưa hoàn thành


của đời sống và văn hóa (TĐB... tr.315). Thật là thấy người ăn cũng thò


tay vào bị... đời sống và văn hóa có bao giờ là hoàn thành nhỉ? Viết rồi


dịch rồi diễn giải lại một sự vô nghĩa, nó phí phạm quá. Trong động từ


tiếng Nga chia ra thể hoàn thành và chưa hoàn thành, thời quá khứ, hiện tại


và tương lai. Từ những ký ức của ngôn ngữ mẹ đẻ mà Bakhtin viết như thế,


ấy là chuyện của ông ấy. Nhưng khi đọc và diễn giải lại cho người Việt,


sang tiếng Việt, thì phải khác tiếng Nga chứ. Đời sống và văn hóa mà hoàn


thành thì thành đại nghĩa địa rồi, còn gì phải bàn nữa chứ. Ấy, cái nô lệ


học thuật chữ nghĩa tuy thế cũng vui. Chứ cẩn tự như Phạm Toàn thì còn


gì mà nói.

Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn. Cần phải xem Bakhtin đưa ra thuyết

ngoại biên hóa trong hoàn cảnh như thế nào. Về chủ quan - tác giả, tức


Bakhtin, về khách quan, ngoại quan, là xã hội Xô viết, cuộc sống Xô viết


thời đó. Và mục đích của các trường phái phương Tây thời đó.

Theo Ngô Tự Lập thì Bakhtin là người chống Mác quyết liệt từ đầu đến

cuối. Cái giải trung tâm, ngoại biên hóa, chống lại trung tâm, chính thống


của thuyết ngoại biên là có nguồn cơn từ đó chăng? Và phương Tây bốc


Bakhtin lên như nhà bác học lớn của thời đại, nhà tư tưởng lớn của thời đại,


phải chăng, trước hết, và xuyên suốt, cuối cùng, vì Bakhtin là kẻ không đội


trời chung với chủ nghĩa Mác? Mà việc bốc thơm, tung hô Bakhtin ở Việt


Nam gần đây nó có cái hơi hướng đó không?

Nhưng mà qua sự diễn giải lại Bakhtin thì thấy thầy trò Giáo sư rất đáng

buồn cười, nhất là câu này “Mikhail Bakhtin quan niệm bản chất văn hóa


nằm ở ngoại biên” (Sđd., tr.314). “Lĩnh vực văn hóa không có nội địa, bởi


vì toàn bộ nó nằm trên đường biên...” (Sđd., tr.314). Rồi theo thầy, Giáo


sư Trần viết: Tôi hình dung lí thuyết văn học như một không gian, mà


đường ranh giới của nó tiếp giáp với các không gian lí thuyết khác. Mọi


đổi thay lí thuyết đều diễn ra trên đường ranh giới này. Mọi cố gắng của tôi


cũng đều nằm trên đường ranh giới Cái gì đang ở biên có nghĩa là chưa


vào tâm... (Sđd., tr.9).

Giáo sư quả là một học trò rất vụng về của Bakhtin. Trò mà như thế biết

thầy làm sao! Văn hóa đâu phải ở các chợ đường biên.

Để khỏi mất thì giờ của bạn đọc, xin khái lược thế này: Thế giới vô cùng

phong phú đa dạng nhưng có qui luật. Mỗi một phạm vi lĩnh vực, một


thực thể... có qui luật của nó. Khi nghiên cứu khoa học phải tìm ra sự khác


nhau giống nhau và quan trọng hơn là phạm trù này có thể vận dụng được


gì ở phạm trù kia, mà không thể thuyền đua thì lái cũng đua con cóc cũng


nhảy con cua cũng bò... ấy là về lí thuyết. Hiệu ứng ngoại biên mà Bakhtin


vận dụng là của lí thuyết sinh học. Ở vùng giáp ranh giữa hai môi sinh môi


trường thì sinh vật phát triển cực mạnh, cực phong phú. Cái đó cũng đúng


mà cũng chưa hoàn toàn. Vùng nước lợ quả là lắm thứ tôm cá. Nhưng nó


chỉ nhiều chỉ lắm ở đấy. Cái đa dạng phong phú của vùng giáp ranh (nước


lợ) cũng có cái hay - như món cá song cá vược con nhệch con nhạc chẳng


hạn). Nhưng con cá ngừ đại dương con cá voi cá mập cũng có giá của nó


chứ. Cấu trúc của các hệ thống xã hội, về chính trị, hành chính, kinh tế,


văn hóa nghệ thuật... nó khác lắm. Không thể đem mô hình, lý thuyết


đường biên sinh học mà vận dụng vào được, mà hô hào giải trung tâm,


ngoại biên hóa. Bakhtin có động cơ mục đích của ông ta. Còn trong học


thuật nói chung và ở Việt Nam nói riêng, không thể nhắm mắt tụng theo


Bakhtin được. Thôi không dài dòng nữa. Mời Giáo sư vào chính khu rừng


nhiệt đới - như Cúc Phương chẳng hạn, rồi lại lên vùng giáp ranh như Sapa


chẳng hạn, xem nó giống nhau khác nhau thế nào. Xem sức sống ở đâu


mạnh hơn, phong phú hơn. Rồi về Hà Nội, nhờ cái Hội trường Viện văn


chẳng hạn, phương chi nhiên hậu, ta hẵng bàn đến cái ngoại biên và ngoại


biên hóa.

Giáo sư tự nhận có mâu thuẫn là đúng. Giáo sư dẫn giải Bakhtin rằng văn

hóa không có nội địa, cũng không có trung tâm, tất cả là ở ngoại biên.


Nhưng xướng xuất lí thuyết, Giáo sư lại hàm ý mong vào được Trung tâm


vào được tâm: Cái gì đang ở biên có nghĩa là chưa vào tâm... (Sđd., tr.9).


Giáo sư ơi, ở tâm, ở trung tâm, nó có cái gì đâu, nó có gì đâu mà mong


vào! (Ấy là theo tinh thần tư tưởng của Bakhtin). Vả lại, một lần mâu thuẫn


thì thể tất được thịt da ai cũng là người, nhưng nhiều lần, và ở những chỗ


rất quan trọng thì thành ra anh hàng bán mâu rao thuẫn, cái gì cũng đâm


thủng, cũng giải được mà không có cái gì đâm thủng được giải hóa được...

- Về cụ thể học thuật:
Có nhiều, xin nêu một vài làm ví dụ. Giáo sư viết:
“Tuy nhiên, truyền thống tư tưởng của chúng ta thiếu vắng các cuộc tranh

luận khoa học thực sự, vì truyền thống ấy coi trọng chữ “đồng”, “tam


giáo” rất khác biệt vẫn “đồng nguyên”. Do coi trọng chữ đồng cho nên xã


hội, văn hóa ít có biến động lớn, xã hội gần như dẫm chân tại chỗ, ít phát


triển” (Sđd., tr.308).

Giáo sư không hiểu những đặc điểm rất quan trọng của lịch sử chính trị và

văn hóa của Việt Nam. Tranh luận khoa học thực sự đúng là còn ít nhưng


thiếu vắng thì không đâu. Hỏi các cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,


Tô Ngọc Vân... xem. Hòa đồng tôn giáo là một tư tưởng tích cực trong


đời sống văn hóa xã hội Việt Nam. Ở ta không có kỳ thị mâu thuẫn chiến


tranh tôn giáo vì là như thế. Quí lắm! Sau này đến Tứ giáo (thêm Thiên


chúa giáo) vẫn đồng ở chỗ nguyên nên các giáo hiện tồn vẫn chung câu tốt


đời đẹp đạo. Như một làng Xuân Phả (Xuân Trường - Thọ Xuân - Thanh


Hóa). Trong làng có chùa, có nhà thờ, có văn miếu, có Bái thờ (thờ Lê


Thái Tổ). Đạo nhà ai nhà nấy thờ. Lại nói do coi trọng chữ đồng cho nên


xã hội, văn hóa ít có biến động lớn, xã hội gần như dẫm chân tại chỗ, ít


phát triển (!). Chỗ này mà dám biện luận với Giáo sư thì hóa ra dạy chân


dài vén áo. Nên xin mượn lời một người đồng bào, ông Nguyễn Văn


Trọng, viết: Đạo lý cương thường của Khổng Mạnh rõ ràng trói buộc con


người... (Bàn về Tự do. NXB Tri thức. H. 2014, tr.264) khi cuốn Bàn về


Tự do của John Stuart Mill công bố lần đầu ở Anh năm 1859 thì đến năm


1871 người Nhật đã dịch và in hàng triệu bản (Sđd., tr.262). Trong khi đó


Tự Đức trọn đời chỉ có hai lần ra khỏi cung cấm còn thì tự trói mình trong


đó với mấy trăm bà vợ và việc nước thì giao cho bề tôi của Khổng Mạnh


trước khi là bề tôi của mình như Phan Thanh Giản... Xã hội Việt Nam thời


phong kiến ít biến động, ít phát triển, dẫm chân tại chỗ không phải do


trọng chữ đồng đâu, Giáo sư hiểu rất sai về vấn đề rất lớn.

Định thôi, mà không đành không nỡ. Thôi thì cho nó trót. Giáo sư viết:

“Chân lý nằm trong đối thoại và chỉ qua đối thoại mới được mọi người


thừa nhận. Và ai có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi thì sẽ có điều


kiện tiếp cận chân lý nhiều hơn người chỉ biết áp đặt nhận định tuỳ tiện


(Sđd., tr.309).

Chỗ này khó nói quá. Có điều kiện học tập tìm hiểu nghiên cứu thông thạo

ngoại ngữ như Giáo sư thì điều kiện tiếp cận chân lý hẳn là hơn người


nhiều lắm. Nhưng giáo sư nhầm. Tất cả các yếu tố, điều kiện Giáo sư nói


chỉ là một nửa của vấn đề, mà là nửa phụ, nửa lý thuyết giấy tờ sách vở


thôi. Thưa Giáo sư, chân lý được kiểm nghiệm được khẳng định thừa nhận


là trong thực tiễn, qua thực tiễn. Qua đối thoại mà có được chân lý thì


Giáo sư thua xa các chị em trên chợ Đồng Xuân.

Có bạn đọc hỏi: Kỳ này không cấp thời kiến nghị... nữa à? Như kỳ trước

đã nói, vuốt má nể môi, chứ cạn tàu ráo máng... thì con em mình nó biết


học hành thi cử vào đâu? Sát nhất miêu cứu vạn thử. Vả lại, Khoa Ngữ văn


Đại học Sư phạm Hà Nội có truyền thống đáng kính đáng quí. Các thầy


học của tôi từ đấy mà ra. Phải nhớ ơn tôn kính bảo vệ chứ. Với lại, Khoa


Ngữ văn ĐHSPHN hiện tiền cũng còn nhiều thầy cô có lương tri lương


năng, chứ đâu chỉ có cái cặp đôi kép Vị trí bên lề... và Lý thuyết trò


chơi...

Đã cặp đôi lại còn kép! Đúng thế. Vì có những hai cặp đôi, chẳng kép là

gì.

Có cái sự như thế thì thông tin đến bạn đọc như thế. Còn thì tuỳ ông Bộ

trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo, tuỳ nhà trường ĐHSPHN, tuỳ Khoa Ngữ


văn... Nhưng mà - nếu có lòng tự trọng - Giáo sư nên trả lại trách nhiệm


khoa học, uy tín và danh vọng Giáo sư Trưởng khoa, Nhà giáo nhân dân...


cho dư luận. Nếu không, công luận cũng có cách xử sự của công luận. Từ


tấm gương của Giáo sư, tôi nghĩ, thà làm đầu cái ti cai tí nhà mình còn hơn


làm cái đuôi chín ngà cho nhà BaKhờ BạcTin!

Kính sợ mong chờ đối thoại cho nó ra chân lý, thưa Giáo sư!

Hà Nội, 15-7-2015


Nguồn: Báo Văn Nghệ TPHCM


Thursday, 19 March 2015

Công sứ Darles chưa bao giờ bán cháo




Bản án chế độ thực dân Pháp có ít nhất hai lần gọi công sứ Darles là anh hàng cháo:

Cái ông Đáclơ ấy quả là một nhà cai trị có tài. Khoa cai trị của ông ta, ông ta đã học được ở khu phố latinh khi ông còn là một anh hàng cháo.
(Ce M. Darles est un administrateur de valeur. Il a acquis sa science politique au Quartier latin, où il fut marchand de soupe.)
...
Chễm chệ đứng đầu một tỉnh có hàng vạn dân, và được giao cho quyền hành tuyệt đối, ông ta vừa là tỉnh trưởng, vừa là thị trưởng, vừa là quan toà, vừa là mõ toà, vừa là người đốc thuế; tóm lại, ông ta nắm trong tay tất cả mọi quyền hành: Toà án, thuế khoá, điền thổ, tính mạng và tài sản của người bản xứ, quyền lợi của viên chức, việc bầu cử lý trưởng và chánh tổng, tức là vận mạng của cả một tỉnh được đặt vào tay cái anh hàng cháo ngày xưa ấy.
(Confortablement mis à la tête d'une province de plusieurs milliers d'habitants et investi d'un pouvoir sans contrôle, il est préfet, maire, juge, huissier, garnisaire, en un mot, il cumule tous les pouvoirs. Justice, impôt, propriété, vies et biens, des indigènes, droits des fonctionnaires, élections des maires et chefs de canton, c'est­à­dire la destinée d'une province entière est confiée aux mains de cet ancien popotier.)
Bản dịch này có chỗ không ổn.
Trước hết, cháothức ăn lỏng nấu bằng gạo hay bằng bột (Văn Tân, 1994:144) và thường thì nói tới cháo là người Việt nghĩ ngay tới gạo (Lê Văn Đức et al., 1970a:264). Nhưng người Việt thường dùng gạo để nấu thành cơm, ít khi nấu cháo. Bữa ăn trong tiếng Việt còn được gọi là bữa cơm. Ăn cháo là chuyện vạn bất đắc dĩ. Người Việt không ăn cháo nếu không đau ốm hoặc không quá túng thiếu.
Nhưng ở Pháp người ta không mấy khi ăn cơm. Bây giờ vẫn thế. Cách đây một thế kỷ chỉ nhà giàu mới rùng rẻng bạc tiền đi ăn cơm Tàu. Ăn được một bát cháo ở trời Tây còn khó hơn. Làm chủ hàng cháo ở khu phố La Tinh đại khái cũng giống như mở nhà hàng 5 sao giữa thành phố Hồ Chí Minh bây giờ.
Các từ marchand de soupepopotier trong bản gốc chỉ nhấn mạnh xuất thân hạ tiện của công sứ Darles, nguyên là một tay bán hàng ăn bình dân. Không việc gì phải đoán xem soupecháo hay xúp, món nào sang trọng (hay hèn kém) hơn món nào. Xúp là một món chủ lực của người Pháp nên từ soupe cũng có nghĩa là bữa ăn, không khác gì người Việt gọi bữa ănbữa cơm.
Theo cùng nguyên tắc này, người Công Giáo Việt Nam không xin bánh mì khi đọc kinh Lạy Cha:
Xin Cha cho con lương thực hàng ngày dùng đủ.
Pain trong tiếng Pháp (Donnez-nous aujourd'hui notre pain quotidien) panis trong tiếng La Tinh (Panem nostrum supersubstantialem da nobis hodie) có thể là miếng bánh đối với Tây, nhưng là bát cơm của ta. Nó là lương thực, là cái ăn trong mọi trường hợp.