Friday, 22 March 2013

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay (Nguyễn Thị Vy - Tạp Chí Cộng Sản)


18:41' 22/3/2013
TCCS - Lời Bộ Biên tập: Thực hiện sự chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các nghị quyết Hội nghị Trung ương, trực tiếp là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ngày 27-12-2012, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương và Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đồng tổ chức Hội thảo khoa học: “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay”. Hơn 200 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan đảng, các bộ, ngành ở Trung ương, các nhà khoa học tới dự Hội thảo. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu Tổng thuật Hội thảo.


TỔNG THUẬT HỘI THẢO
Ban Tổ chức Hội thảo nhận được 96 bản tham luận từ các nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo, quản lý các cấp, các nhà hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực, các địa bàn; các tướng lĩnh, từ các địa bàn trọng điểm rất nhạy cảm về tôn giáo, dân tộc tới các cơ quan quản lý người Việt Nam sinh sống và học tập tại nước ngoài... Nhìn tổng thể, các tham luận và 13 ý kiến tham luận tại Hội trường, dưới nhiều góc độ, từ nhiều cách tiếp cận, đã kiến giải vấn đề một cách tương đối đa diện, khá phong phú, gợi mở, có đóng góp nhất định về lý luận cũng như thực tiễn.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Khái niệm và các yếu tố tác động

Thuật ngữ “tự diễn biến” (TDB), “tự chuyển hóa” (TCH) chỉ thực sự xuất hiện gần đây sau chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống các nước xã hội chủ nghĩa và các nước có khuynh hướng tiến bộ không theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Bằng thủ đoạn chống phá, các thế lực thù địch tạo sự TDB, TCH từ bên trong nội bộ.

Theo TS. Phạm Chiến Khu (Viện trưởng Viện Dư luận Xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương), chúng ta cần có cách hiểu thống nhất về bản chất của hiện tượng này. Đại tá, PGS, TS. Nguyễn Văn Thắng (Phó chủ nhiệm Khoa Công tác đảng, công tác chính trị, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng) khẳng định, những biểu hiện TDB, TCH về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta cảnh báo từ Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. TDB, TCH lần đầu tiên được khẳng định trong Nghị quyết XI của Đảng.

Đại tá, PGS, TS. Bùi Trung Thành (Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân), TS. Nguyễn Đức Độ (Trưởng Ban Nghiên cứu,Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng) cho rằng, TDB, TCH là yếu tố bên trong của “diễn biến hòa bình”. Nhận diện đúng các biểu hiện của TDB, TCH là một nhiệm vụ rất cấp bách để giành thế chủ động trong cuộc chiến phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Theo Đại tướng, GS, TS. Trần Đại Quang (Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an), “tự diễn biến” là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong nội tâm người cán bộ, đảng viên trước những tác động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế. Trong đó, yếu tố tiêu cực và tư tưởng tư bản chủ nghĩa dần dần tăng lên; yếu tố tích cực, cách mạng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ chuyển sang hành động của chủ thể. Phát biểu tại Hội thảo, Nhà báo Hà Đăng cho rằng, “tự diễn biến” là quá trình biến đổi từ bên trong cán bộ, đảng viên theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ. Biểu hiện rõ nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

“Tự chuyển hóa” là sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”, nhưng ở cấp độ cao hơn. Đó là sự thay đổi về chất của quan điểm chính trị lẫn đạo đức, lối sống, khiến cho cán bộ, đảng viên không còn là chính mình nữa, chẳng những đánh mất vai trò tiên phong, gương mẫu mà có khi trở thành kẻ phản bội, chống lại Đảng và Nhà nước ta, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù. TDB, TCH là nói về quá trình diễn ra trong chính nội bộ ta. TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, đối tượng của TDB, TCH mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm tới là các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, trong đó tập trung vào hệ thống tổ chức của Đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang.

Theo PGS, TS. Bùi Trung Thành TDB, TCH có thể diễn ra ba giai đoạn, ứng với ba mức độ. Ở giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; giai đoạn hai, đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, hoặc lý luận phản động; giai đoạn ba, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối.

Trung tướng Nguyễn Đức Khiển (Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), đồng chí Nguyễn Phương Nga (Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) khẳng định, TDB, TCH có quan hệ mật thiết và là một trong những mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền là mảnh đất màu mỡ của TDB, TCH.

Các tác giả đều nhắc tới bài học về việc xóa bỏ chế độ XHCN ở Liên Xô và một số nước Đông Âu của các thế lực thù địch bằng thủ đoạn chống phá tạo sự chuyển hóa từ bên trong. Theo TS. Cao Đức Thái (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), nguyên nhân trực tiếp, thể hiện ở giai đoạn cuối cùng của cuộc khủng hoảng - sụp đổ Liên Xô, Đông Âu là TDB, TCH ngay trong nội bộ ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. PGS, TS. Nguyễn Thế Thắng (Trưởng Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I) chứng minh, Hồ Chí Minh đã lo lắng rất sớm về sự suy thoái đạo đức, lối sống của những người “lên mặt làm quan cách mạng”, sa vào chủ nghĩa cá nhân trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên.

Các nhà báo Hà Đăng, Hữu Thọ, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn (Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị), PGS, TS. Trần Nam Chuân, TS. Nguyễn Đức Độ và nhiều tác giả khác khẳng định, hiện nay TDB, TCH trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là hiện hữu, đáng lo ngại, với nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhiều tác giả nhắc lại lời căn dặn của V.I. Lê-nin là, không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta; và thống nhất: Phòng, chống TDB, TCH trong nội bộ ta thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan dẫn đến thoái hóa, biến chất là vấn đề có ý nghĩa quyết định, là nhiệm vụ then chốt trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Đại tá Đinh Công Huấn (Phó Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Quân sự) khẳng định, trong những sai lầm của người cộng sản, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng là vấn đề nguy hại nhất. Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng (Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng) cho rằng, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong, bên trên nội bộ Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; khi có thời cơ chúng sẽ sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công, ngoại kích”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đẩy nhanh sự sụp đổ chế độ XHCN mà chúng đã rắp tâm thực hiện được ở các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây.

PGS, TS. Tô Lâm (Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an), PGS, TS. Bùi Trung Thành, Trung tướng, PGS, TS. Nguyễn Ngọc Hồi (Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân) cho rằng, TDB, TCH trong nội bộ ta do nhiều yếu tố trước hết là nguyên nhân chủ quan và nhấn mạnh: Con đường đi lên CNXH ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới chưa được luận giải kịp thời; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, các ngành thoái hóa, biến chất, chạy chức, chạy quyền, tranh giành, kèn cựa địa vị, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, vi phạm pháp luật và chuẩn mực văn hóa, đạo đức; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên và chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; sự phát triển mạnh mẽ của các trang mạng xã hội và hệ thống thông tin đại chúng; tình trạng quản lý cán bộ, đảng viên lỏng lẻo dẫn tới hiện tượng chạy chức, chạy quyền; tác động của mặt trái của cơ chế thị trường v.v..

Bản chất, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên 

Thực tiễn ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, tình trạng TDB, TCH rất nguy hiểm. Một trong các vấn đề mấu chốt là cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, các hình thức, biện pháp của các thế lực thù địch từ nước ngoài đang tìm mọi cách thúc đẩy TDB, TCH nội bộ ta ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thiếu niềm tin, hoài nghi, thậm chí phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ để hướng theo tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên CNXH và thay bằng con đường phát triển tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... GS, TS. Lê Hữu Nghĩa (Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương), Thiếu tướng, GS, TS. Phạm Ngọc Hiền (Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an), Đại tá Nguyễn Đức Khang (Viện Chiến lược, Bộ Quốc phòng) đều khẳng định như vậy. Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, tác phong, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Nhà báo Trần Quang Hà (Báo Nhân Dân) cho rằng, các thế lực thù địch muốn truyền bá lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy, khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra những tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen chế độ.

Theo PGS, TS. Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị - Hành chính quốc qia Hồ Chí Minh), sự suy thoái về tư tưởng chính trị trước hết biểu hiện ở sự phai nhạt lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thậm chí muốn từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam. Biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị còn là sự dao động, thiếu niềm tin, nhất là ở những thời điểm khó khăn của đất nước, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Đại tá, TS. Mẫn Văn Mai (nguyên Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng) cho rằng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị và nêu gương xấu của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, biểu hiện ở sự coi thường tổ chức, kỷ cương, kỷ luật và các nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, lợi dụng trách nhiệm được giao để mưu cầu lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; coi thường lý luận, không chịu học tập, nghiên cứu lý luận, đường lối quan điểm của Đảng, chủ quan, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa; không cố gắng làm tròn chức trách, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó, nói và làm trái với quan điểm, nghị quyết của Đảng; từ đó rơi vào vòng xoáy của chủ nghĩa cơ hội, nhất là cơ hội về chính trị, viết hồi ký, tán phát tài liệu trái phép nhằm làm rối dư luận, kích động các hành vi chống đối Đảng, Nhà nước.

Thực tế các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cho thấy, “tự diễn biến” trước hết và chủ yếu về tư tưởng chính trị. Khi tư tưởng chính trị chệch hướng, tất yếu làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước bị chia rẽ, suy thoái, nguy cơ “tự chuyển hóa”, sụp đổ của thể chế chính trị là điều khó tránh khỏi. Đây là lý do lý giải vì sao những năm qua, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy TDB, TCH về tư tưởng chính trị, trước hết nhằm vào các cơ quan lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nơi hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của đất nước... một cách tinh vi và đa dạng. Đồng chí Nguyễn Văn Nên (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên) nhấn mạnh, từ nhiều năm nay, các thế lực thù địch luôn khai thác, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gắn với nhân quyền để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta.

Theo Đại tá Nguyễn Đức Khang, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất... TS. Cao Đức Thái đặt câu hỏi: Phải chăng trong điều kiện của kinh tế thị trường, thiếu cơ chế quản lý hiệu quả, thiếu công khai minh bạch, thiếu sự giám sát khách quan đã dẫn đến hình thành những điều kiện kinh tế - xã hội, như là nguyên nhân của TDB, TCH trong Đảng và Nhà nước ta? Thiếu tá Mai Tùng Lâm (Phó Trưởng phòng, Cục Tham mưu, Tổng cục An ninh II), Đại tá, PGS, TS. Bùi Trung Thành đưa ra những kịch bản TDB ở Việt Nam có thể xảy ra. Một là, về chính trị. Hai là, từ kinh tế chuyển hóa về chính trị. Ba là, các phần tử biến chất liên kết lại dùng “nội công, ngoại kích” tạo ra “cách mạng màu” theo kiểu “mùa xuân Ả-rập”.

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, TDB, TCH là sự đề cao, sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, các giá trị văn hóa, đạo đức XHCN; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; thương mại hóa các hoạt động văn hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng... Điều đáng lo ngại là những biểu hiện đó lại hiện hữu ở một số người, tình trạng “chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy huân chương” diễn ra rất phức tạp chưa được khắc phục... Tình trạng “thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đồng chí Cao Văn Thống (Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ủy ban Kiểm tra Trung ương) cho rằng, một bộ phận cán bộ, đảng viên từ suy thoái về tư tưởng chính trị, cũng có thể chuyển sang cả suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống ích kỷ, cá nhân, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; tham nhũng, lãng phí, hám danh, bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân; nói không đi đôi với làm, nói một đằng, làm một nẻo, không chấp hành nghiêm túc quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp, không gương mẫu trong sinh hoạt gia đình.

Những biểu hiện TDB về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề không thể xem thường, bởi vì nhiều khi TDB về đạo đức, lối sống, sự lệch chuẩn giá trị là sự khởi đầu cho TDB về chính trị, tư tưởng. Điều đáng nguy hại là TDB về đạo đức, lối sống diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trong đó có cả những người có chức, có quyền, nhằm du nhập văn hóa, đạo đức lối sống tư sản trong đời sống của xã hội ta. Đồng chí Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương) cho rằng, việc suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã diễn ra trong một thời gian dài và trên phạm vi rộng, với tính chất và mức độ rất nghiêm trọng.

Trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, PGS, TS. Nguyễn Hồng Vinh (Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật Trung ương) cho rằng, TDB, TCH trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật về bản chất, là một quá trình suy thoái từ bên trong của một số văn nghệ sĩ thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại là sự phủ nhận của một số người đối với sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thống nhất của Đảng đối với lực lượng vũ trang, mong muốn “phi chính trị hóa quân đội”, phủ nhận, xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân của Đảng, tuyệt đối hóa nhiệm vụ phát triển kinh tế, coi nhẹ, buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đề cao thuyết vũ khí luận trong điều kiện mới, coi nhẹ yếu tố chính trị tinh thần, gây chia rẽ mất đoàn kết giữa Đảng với quân đội, quân đội với nhân dân và công an, đối lập tổ chức đảng với tổ chức chỉ huy, chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, cổ xúy cho những hành động “yêu nước” theo kiểu manh động, như xuống đường biểu tình, tập trung tụ tập đông người gây mất trật tự trị an xã hội. Theo Đại tá, ThS. Đặng Văn Hường (Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị), với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội các thế lực thù địch đưa ra luận thuyết: “Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào và chủ quyền quốc gia”; phải là “lực lượng trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”, chỉ là “công cụ của quốc gia, dân tộc”(!)... nhằm phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang nhân dân, hướng tới làm tê liệt ý chí chiến đấu của Quân đội ta.

Đồng chí Nguyễn Phương Nga, đồng chí Trương Mạnh Sơn (Bí thư Đảng ủy Ngoài nước) nhấn mạnh, trong lĩnh vực đối ngoại, các thế lực thù địch cố tình thông tin sai lệch và xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ giữa ta với các đối tác quan trọng nhằm gieo rắc sự hoài nghi, hiểu lầm, bức xúc của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta; xuyên tạc các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…

Một số giải pháp chủ yếu phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

PGS, TS. Vũ Văn Phúc (Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản) nhấn mạnh: Việc phòng, chống TDB, TCH trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một trong những vấn đề cấp bách, nhưng cũng là rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi giải quyết phải rất khoa học, rất công phu và phải rất tinh tế và hiệu quả, để tránh những hậu quả không đáng có trong tình hình hiện nay.

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống TDB, TCH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, phòng, chống TDB, TCH trong nội bộ giữ vai trò quyết định; cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh (QP-AN) và đối ngoại.

Trước hết, trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, Thượng tướng, Viện sĩ, TS. Nguyễn Huy Hiệu (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Thiếu tướng Bùi Văn Tâm (Phó Chính ủy Học viện Quốc phòng), Thiếu tướng Phan Tiến Hạc (Phó Cục trưởng Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị) cho rằng, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng.

GS, TS. Trần Đại Quang khẳng định, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, TDB, TCH là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây không phải là mặt trận có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà phải sử dụng tư tưởng, lý luận cách mạng đánh bại tư tưởng, lý luận phản động; sử dụng chính nghĩa và sự thật đánh bại sự xuyên tạc, vu cáo; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... PGS, TS. Bùi Trung Thành, TS. Cao Đức Thái, TS. Nguyễn Đức Độ, PGS, TS. Nguyễn Bá Dương, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, TS. Trần Hồng Hà (Phó Bí thư Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương) đều cho rằng, cần tập trung thực hiện một số giải pháp: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khắc phục những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội; tích cực tạo bước chuyển biến mới trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tập trung giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực, chủ động giữ vững ổn định bên trong với phòng ngừa, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ phía chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ở bên ngoài bằng nhiều hình thức, quy mô, lực lượng trên tất cả các lĩnh vực...; tăng cường các biện pháp nắm bắt tình hình địch, tình hình ta ở cơ sở, nhất là những địa phương có “điểm nóng”; kịp thời phát hiện các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của bọn phản động, sự móc nối của chúng với các phần tử bất mãn với chế độ ta ở trong và ngoài nước... Nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đổi mới và tăng cường công tác cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Để phòng, chống tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, PGS, TS. Vũ Văn Phúc; TS. Phạm Đình Đảng (Tạp chí Cộng sản); ThS. Lại Xuân Lâm (Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương); Đại tá, TS. Nguyễn Văn Hữu (Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng) đưa ra các nhóm giải pháp trong công tác xây dựng Đảng; quản lý nhà nước; hạn chế tiêu cực từ bên ngoài và phát huy vai trò của tổ chức đảng các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội trong phòng, chống TDB, TCH. GS, TS. Lê Hữu Nghĩa, PGS, NCVCC Trần Đình Huỳnh, PGS, TS. Nguyễn Văn Thắng, Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng (Viện trưởng Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng), TS. Phạm Văn Khánh (Báo Nhân Dân), Nguyễn Phi Long (Phó Vụ trưởng Vụ Đảng viên, Ban Tổ chức Trung ương) cho rằng, phải gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp đấu tranh, “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, tạo ra sức tự đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, giữa trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các binh chủng trên mặt trận tư tưởng trong cuộc đấu tranh chống hoạt động “diễn biến hòa bình”.

PGS, TS. Nguyễn Thế Thắng, đồng chí Nguyễn Đức Hà đề cao giải pháp đổi mới công tác cán bộ, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI; đấu tranh chống tham nhũng; bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. ThS. Lê Hải (Tạp chí Cộng sản) khẳng định, để có thể chiến thắng được chính mình trong cuộc đấu tranh tư duy giữa “trắng” và “đen”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải được chuẩn bị hành trang về nhận thức chính trị, bản lĩnh chính trị và phương pháp luận khoa học, từ đó nâng cao khả năng “tự miễn dịch” từ bên trong. GS, TS. Phạm Ngọc Hiền cho rằng, việc tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa hết sức quan trọng và có thể xem là một trong những giải pháp cơ bản phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, TDB, TCH.

Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Thiếu tướng Lê Đình Luyện (Cục trưởng A88, Bộ Công an), TS. Lê Minh Phụng (Tạp chí Cộng sản) cho rằng, công tác đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống nhất của các cấp ủy, sự điều hành của chính quyền các cấp.

Trong lĩnh vực kinh tế, đồng chí Nguyễn Đình Phách (Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng) nhấn mạnh, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tăng cường xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững; có khả năng cạnh tranh cao để chủ động hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Cần tiếp tục đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng. Phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với thủ đoạn lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt là, cán bộ chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa cá nhân” chi phối.

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, cần quyết tâm bảo vệ đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội của Đảng, chủ trương và chính sách văn hóa - xã hội của Nhà nước; bảo vệ, xây dựng và phát triển hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới trên nền tinh hoa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Chống lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây. Nhà báo Trần Quang Hà cho rằng, phòng và chống TDB, TCH trong văn học - nghệ thuật trước hết là cần tạo dựng niềm tin, ý chí, sự kiên định với con đường đã lựa chọn,... trong mỗi chủ thể sáng tạo.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại, Trung tướng, TS. Võ Tiến Trung (Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng) nhấn mạnh, để nâng cao hiệu quả phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội; vạch trần và chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm quân đội ta “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Thiếu tướng Nguyễn Xuân Nghi (Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị); Đại tá, PGS, TS. Nguyễn Xuân Thành (Học viện Quốc phòng) cho rằng, phòng chống TDB, TCH trong cán bộ, đảng viên quân đội là vấn đề vừa cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài cần phải được coi trọng và tổ chức thực hiện bằng hệ thống giải pháp đồng bộ cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức...

Các tham luận đều khẳng định, cần giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc là cơ sở để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài. Theo đồng chí Nguyễn Đình Phách; ThS. Đỗ Minh Hạnh (Tạp chí Cộng sản); ThS. Nguyễn Tùng Lâm (Bộ Quốc phòng), cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí phải được tăng cường, kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan của Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Mai Thế Dương (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương), Trung tướng Vũ Hải Triều (nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II), Trung tướng Võ Trọng Việt (Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Đại tá, TS. Vũ Minh Thực (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) khẳng định, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát là một trong những giải pháp quan trọng để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và cán bộ, đảng viên; góp phần kịp thời phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới nhen nhóm, phát sinh với phương châm “chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, tự bảo vệ mình là chính”; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống TDB, TCH với tinh thần tích cực tấn công làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trước mắt, tập trung giải quyết tốt ba vấn đề mang tính cấp bách về công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI./.
Nguyễn Thị Vy(Tổng thuật)

Friday, 25 January 2013

“Dân chủ” và “Tự do” giảm: Đếm từ trong hiến pháp 1946-2013 (Nguyễn Văn Tuấn)

Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn
InEmail
Thứ sáu, 25 Tháng 1 2013 11:24
Tôi mới đọc bài viết Hành trình hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn khoa học của Ts Trần Xuân Hoài. Bài viết trình bày một phân tích thống kê về một số từ như độc lập, tự do, bình đẳng, dân chủ trong 5 hiến pháp (1946, 1960, 1980, 1992, và dự thảo 2013). Những con số rất đáng chú ý, nhưng hình như tác giả không bình luận. Ở đây, tôi muốn bổ sung thêm vài con số và vài ý để thấy một xu hướng rất thú vị.


Giới nghiên cứu xã hội có một môn thể thao tri thức rất thú vị là đếm từ trong văn bản. Theo lí thuyết tâm lí thì tần số xuất hiện của những từ trong văn bản có thể nói lên suy nghĩ hay sự quan tâm của tác giả. Do đó, trong các nghiên cứu định tính, nhà nghiên cứu có thể tạo môi trường và điều kiện để đối tượng nghiên cứu tự do phát biểu, và những phát biểu được thu thanh lại. Sau đó một chương trình máy tính sẽ được sử dụng để phân tích tần số dùng chữ, tần số các chủ đề trong thảo luận, và từ đó có thể phát hiện một xu hướng chung.

Trước đây, tôi cũng từng mài mò làm một vài phân tích thơ lục bát của Nguyễn Du, Nguyễn Bính, và Nguyễn Đình Chiều. Kết quả những phân tích so sánh cũng cho ra vài phát hiện về âm điệu, cách gieo vần và dùng từ của các thi sĩ trên. Nhưng những phân tích như thế thật ra chỉ có mục tiêu giải trí là chính, chứ cũng khó phát kiến được một giả thuyết khoa học nào. Nhưng qua cách làm tôi cũng học thêm vài điều về phương pháp, và nhất là có dịp đọc sách về định lượng ngôn ngữ học. 

Hai năm trước, tôi cũng có làm một so sánh về tần số dùng từ của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Tổng thống Obama. Kết quả cho thấy trong bài diễn văn của ông NĐM nhân dịp kỉ niệm 77 năm ngày thành lập Đảng, chữ Đảngxuất hiện 83 lần, Nhân dân 27 lần, Nhà nước chỉ có 3 lần. Một điều thú vị khác là ông Tổng bí thư có xu hướng dùng những chữ như là, và, của ... hơi nhiều. Ông Obama thì có xu hướng dùng những từ như nation (quốc gia), people (người), new (mới), America, world (thế giới), today (hôm nay), must (phải), v.v. Rõ ràng, hai người có 2 quan tâm khác nhau. 

Hôm nay, nhân đọc bài Hành trình hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn khoa học của Ts Trần Xuân Hoài, tôi lại có động cơ xem qua sự phân bố từ ngữ trong các bản hiến pháp. Ts Hoài đặc biệt quan tâm đến 4 từ: độc lập, tự do, bình đẳng, và dân chủ. Nhưng tôi nghĩ trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều người quan tâm đến vai trò của Đảng CSVN, đến định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v. thì có lẽ chúng ta cũng nên thêm vài từ nữa. Những từ tôi nghĩ đến là Đảng, Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa, và Chủ nghĩa xã hội. Tôi nghĩ xem qua xu hướng phân bố của những danh từ này cũng rất thú vị, vì qua đó mà chúng ta biết được Quốc hội hay người soạn hiến pháp quan tâm đến điều gì hay đang nghĩ gì. 

Sau khi làm một phân tích nhanh sự phân bố từ ngữ trong 5 văn bản hiến pháp (xem kết quả trong Bảng 1), tôi có thể tóm lược vài kết quả như sau:


Bảng 1: Phân bố một số từ trong văn bản hiến pháp ban hành năm 1946, 1960, 1980, 1992, và dự thảo 2003

1946
1960
1980
1992
2013
(dự thảo)
Số từ (*)
3122
6958
12744
12921
13360
"Độc lập"
0
2
9
9
12
"Tự do"
8
7
12
10
13
"Bình đẳng"
2
5
7
7
10
"Dân chủ"
10
69
7
5
8
"Đảng"
0
0
9
2
6
"Cộng sản"
0
0
9
2
2
"Xã hội chủ nghĩa"
0
2
68
37
30
“Chủ nghĩa xã hội”
0
2
15
1
1
Tính trên 1000 từ
"Độc lập"
0.0
0.3
0.7
0.7
0.9
"Tự do"
2.6
1.0
0.9
0.8
1.0
"Bình đẳng"
0.6
0.7
0.5
0.5
0.7
"Dân chủ"
3.2
9.9
0.5
0.4
0.6
"Đảng"
0.0
0.0
0.7
0.2
0.4
"Cộng sản"
0.0
0.0
0.7
0.2
0.1
"Xã hội chủ nghĩa"
0.0
0.3
5.3
2.9
2.2
Chủ nghĩa xã hội
0.0
0.3
1.2
0.1
0.1

Chú thích : (*) Số từ không tính phần mở đầu. Chú ý những con số này hơi khác với những con số trong bảng thống kê của Ts Trần Xuân Hoài. Tôi không rõ tại sao khác nhau, nhưng nguồn văn bản trong bài này lấy từ dangcongsan.vn và trang laws.dongnai.gov.vn.



Nội dung càng ngày càng nhiều . Việt Nam (không tính Việt Nam Cộng Hòa) đã có 4 bản hiến pháp, và năm nay thêm một dự thảo hiến pháp. Mỗi bản hiến pháp sau đều có thêm những mục và tiết mới, nên số từ cũng gia tăng. Hiến pháp năm 1946 chỉ có 3122 từ, đến năm 1960 con số này tăng lên hơn 2 lần (6958 từ), và hiến pháp năm 1992 tăng lên gần 13000 từ, tức gấp 4 lần số từ trong hiến pháp 1946. Dự thảo hiến pháp năm 2013 có đến 13,360 từ, không tăng đáng kể so với văn bản năm 1992. 

Tần số từ độc lập tăng nhưng bình đẳng thì không thay đổi. Bản hiến pháp năm 1946 không có một chữ độc lập, đến năm 1960 thì chữ này xuất hiện 2 lần, năm 1980 và 1992 xuất hiện 9 lần. Bản dự thảo hiến pháp năm 2013 có 12 từ độc lập, tức khoảng 0.9 trên 1000 từ. Từ bình đẳng đã xuất hiện ngay từ hiến pháp 1946. Bản dự thảo hiến pháp năm 2013 có 10 từ bình đẳng, tuy có tăng so với trước đây, nhưng tính trên số từ thì không thay đổi đáng kể. 

Xu hướng phân bố danh từ tự do rất thú vị. Ngay từ bản hiến pháp năm 1946 đã có đến 8 từ tự do, và con số này có xu hướng tăng trong những năm 1980 (12 từ), 1992 (10), 2013 (13). Nhưng nếu tính trên 1000 từ, thì tần số danh từ tự do giảm rất đáng kể. Năm 1946, cứ 1000 từ trong hiến pháp thì khoảng 3 từ tự do, nhưng tỉ lệ này giảm dần theo thời gian, 1960 (còn 1 trên 1000), 1980 là 0.9, 1992 là 0.8, và năm 2013 là 1. Nói cách khác, xác suất tự doxuất hiện trong dự thảo hiến pháp năm nay chỉ khoảng 1/3 so với năm 1946. 

Dân chủ là danh từ xuất hiện rất thường xuyên trong bản hiến pháp 1946 (10 lần) và 1960 (69 lần). Nhưng các bản hiến pháp năm 1980, 1992, và dự thảo 2013 thì chỉ còn 5-8 từ (Biểu đồ 1). 



Biểu đồ 1: Phân bố của hai danh từ dân chủ và tự do trong các hiến pháp năm 1946, 1960, 1980, 1992, và dự thảo hiến pháp 2013.  Trục tung là số từ tính trên 1000 từ trong văn bản, trục hoành là năm.

Danh từ Đảng không xuất hiện trong hiến pháp 1946 và 1960. Nhưng sau ngày thống nhất (1980) danh từ Đảngxuất hiện đến 9 lần, rồi giảm xuống còn 6 lần trong năm 1992 và bản dự thảo 2013. Cùng với sự xuất hiện củaĐảng, danh từ Cộng sản cũng chỉ mới xuất hiện trong hiến pháp từ năm 1980 (9 lần), 1992 (2 lần), và dự thảo 2013 (2 lần). Như vậy, Đảng và Cộng sản tuy mới xuất hiện sau ngày thống nhất nhưng hình như tần số càng lúc càng “khiêm tốn” hơn. 

Cụm từ xã hội chủ nghĩa có xu hướng “thăng trầm” theo thời gian. Cụm từ Xã hội chủ nghĩa chưa xuất hiện trong bản hiến pháp 1946, nhưng đến năm 1960 thì xuất hiện 2 lần, rồi đạt "đỉnh cao" trong năm 1980 với 68 lần! Đến năm 1992, cụm từ này chỉ xuất hiện 37 lần, và giảm xuống còn 30 lần trong bản dự thảo hiến pháp 2013. Điều thú vị là cụm từ chủ nghĩa xã hội chỉ thịnh hành trong bản hiến pháp 1980, nhưng những bản hiến pháp sau đó cụm từ này chỉ xuất hiện 1 lần. 

Tóm lại, những kết quả phân tích tần số các từ trong hiến pháp trên đây cho thấy trong khi Đảng chưa xuất hiện trong hiến pháp thì dân chủ và tự do khá phổ biến, nhưng trong và sau khi Đảng xuất hiện thì dân chủ là tự do giảm rõ rệt. Trong bản hiến pháp sau thống nhất (1980) xã hội chủ nghĩa xuất hiện rất nhiều, nhưng trớ trêu thay đến những năm sau khi kinh tế chuyển sang định hướng xã hội thì sự hiện diện của cụm từ này trong hiến pháp càng ngày càng khiêm tốn.

Thursday, 24 January 2013

Hành trình hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn khoa học (Trần Xuân Hoài)


Trần Xuân Hoài
Ai bảo Toán học chỉ là khoa học tự nhiên?
Bởi tin rằng “Điều gì đã khắc ở trong tâm thì (nhất định) cũng bộc lộ thành lời (thành chữ)”, nên TSKH Trần Xuân Hoài đã thống kê tần suất những từ ngữ chính trị xuất hiện trong chuỗi các Hiến pháp Việt Nam từ 1946 đến nay, xem những con số, những biểu đồ toán học khô khan có nói lên quy luật gì hữu ích không?
Kết quả là, những con số cùng những gợi ý rất nhẹ nhàng và khách quan của tác giả, đã khiến ta dễ dàng đạt tới những nhận thức vô cùng thú vị:
1/ Tần suất những chữ ”Độc lập”, “Tự do”, “Bình đẳng” thì tương đối ổn định. Riêng từ “DÂN CHỦ” được nhấn mạnh trong HP 1946, nhưng sau đó thì liên tục “giảm mạnh” ! Đúng là Nhân quyền bị “teo dần trong Hiến pháp” (GS TS Hoàng Xuân Phú).
2/ Theo thời gian, sự giảm dần của yếu tố Dân chủ lại tương ứng với sự tăng dần của yếu tố Cộng sản và Chuyên chính thể hiện ở cách đặt tên nước, từ một nước dân chủ cộng hòa (1946), dân chủ nhân dân (1960), sang Nhà nước chuyên chính Vô sản (1980), Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (1992), rồi Nhà nước Pháp quyền Xã hội chủ nghĩa (2000, tu chỉnh). Ý thức hệ đúng là yếu tố “làm teo” Nhân quyền!
3/ “Sự định danh lại vào Hiến pháp 1980 từ nhà nước dân chủ sang nhà nước CHUYÊN CHÍNH, là một bước ngoặt lớn”, “hiếm có quốc gia nào có được sự tự định danh chính thức là nhà nước CHUYÊN CHÍNH như Hiến pháp 1980 của nước ta” (nguyên văn TXH, HSP nhấn mạnh). Từ một Hiến pháp năm 1946 dựa trên những tiên đề “không ai có thể bác bỏ” đã du nhập thêm những tiên đề rất dễ bị bác bỏ, nhiều người muốn bác bỏ. Càng củng cố được quyền lực, sự Chuyên chính càng bộc lộ một cách trực diện, ngang nhiên và được pháp chế hóa thẳng thừng.
4/ Chuyên chính tăng lên thì Dân chủ giảm đi là dễ hiểu, nhưng lạ một điều càng Chuyên chính thì Hiến pháp càng tô rõ thêm hai chữ Nhân dân là vì sao, có mâu thuẫn gì ở đây? Bởi theo lý thuyết Mác-xít thì Chuyên chính không mâu thuẫn gì với “Nhân dân” cả: Đảng Cộng sản chỉ Dân chủ với “Nhân dân” nhưng quyết chuyên chính với “kẻ thù”. Trong nhân dân nếu có ai chống lại Đảng thì Đảng đẩy nó thành “kẻ thù”, không cho nó thuộc về “nhân dân” nữa, thế là “nhân dân” thì luôn trong sạch, luôn theo Đảng, và Đảng chẳng bao giờ phải chuyên chính với “nhân dân”!
Đọc bài Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong Hiến pháp của báo Quân đội nhân dân ta sẽ hiểu ngay “nhân dân phải mang tính giai cấp”, chỉ có những người theo Đảng làm cách mạng lập ra chế độ dân chủ cộng hòa mới là “nhân dân”, và Hiến pháp 1946 đã khẳng định không được dân chủ đa nguyên! (Vậy những ai muốn trở về Hiến pháp 1946 chớ có ảo tưởng nhé).
Nghĩa là các khái niệm Dân chủ và Nhân dân đã bị đánh tráo. Đồng thời hai chữ ĐỘC TÀI nghiễm nhiên đi vào Hiến pháp do được nghệ thuật phù phép ngôn từ thay bằng hai chữ CHUYÊN CHÍNH của Trung Hoa cho đỡ phản cảm, mặc dù tất cả các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới đều biết Chuyên chính = độc tài = Dictatura, từ một chữ Latin nghĩa là phi dân chủ!
Việc nhập nhằng giữa khái niệm Nhà nước với Chính quyền, giữa quyền Con người với quyền Công dân, giữa quyền độc lập của một Dân tộc với quyền độc lập của mỗi cá nhân… cũng là những thủ thuật pháp lý láu cá, đánh tráo khái niệm.
Tác giả biết rằng nếu Hiến pháp xây dựng trên cơ sở những chân lý “không ai chối cãi được” thì đương nhiên được toàn dân chấp nhận, nhưng khi người ta cần mưu lợi về chính trị, cần kinh tế, cần tuyên truyền… tức là đặt cơ sở trên những điều “có thể chối cãi”, do xuất phát từ chủ quan những người soạn thảo và quyết định Hiến pháp thì… (xin chấm than!). Chính vì thế mà chừng nào việc soạn thảo và quyết định Hiến pháp còn do một tập thể mà tuyệt đại đa số là người của một phe, một đảng thì… xin đừng tranh biện làm gì cho hoài công? Song song với yêu cầu sửa đổi nội dung Hiến pháp, không thể không đề cập mạnh đến nhu cầu cốt tử này từ những sức mạnh của xã hội công dân, mà việc ký kiến nghị đông đảo và lên tiếng trên mọi diễn đàn cũng là những cố gắng.
Là nhà khoa học tự nhiên, TSKH Trần Xuân Hoài chỉ nói ít, nhưng những con số và đồ thị thuần toán học, như đứng ngoài chính trị, lại có sức mạnh lột trần những tâm can cơ hội chính trị sâu kín, mà nếu không hiểu được rõ, không vạch được rõ, e sẽ không thể luận bàn Hiến pháp.
Hà Sĩ Phu
Khảo sát các bản hiến pháp của Việt Nam có thể thấy rõ biểu hiện của yêu cầu “Độc lâp”, “Tự do”, “Bình đẳng” tương đối ổn định. Riêng “Dân chủ” trong hành trình hiến pháp Việt Nam có sự biến đổi bất thường nhất. Trong các phiên bản ban đầu – 1946, 1960 – phạm trù này được nhấn mạnh nhiều, sau đó thì giảm mạnh.
1- Tiên đề của khoa học
Khoa học là công cụ tư duy để con người lý giải và làm chủ tự nhiên cũng như xã hội. Mọi ngành khoa học đều được xây dựng từ những tiên đề (axioms), là những chân lý vạn năng tự thân không cần chứng minh [1]. Từ lớp 7 phổ thông ai cũng biết tiên đề Euclide về đường thẳng song song là nền tảng cho hình học cổ điển. Đó là loại tiên đề của tư duy toán học. Bảo toàn năng lượng và bảo toàn vật chất là những tiên đề nền tảng cho Vật lý. Tốc độ ánh sáng trong chân không là cực đại và hằng số trong mọi điều kiện là tiên đề cho thuyết tương đối Einstein. Những tiên đề đó là của thế giới tự nhiên. Xã hội con người cũng là một đối tượng của khoa học. Muốn xây dựng một tập hợp con người thành một hệ thống xã hội văn minh cũng cần có những tiên đề, tạm gọi là Tiên đề xã hội. Nói một cách dễ hiểu, đó là những lẽ phải không ai chối cãi được (Hồ Chí Minh)[2]. Từ các tiên đề xã hội sẽ xây dựng nên Hiến pháp, luật pháp, quy tắc của xã hội đó. Tiên đề xã hội được thể hiện trong các niềm tin tôn giáo hoặc các tuyên ngôn xã hội. Khác với tôn giáo cần cách diễn đạt càng mờ ảo thì càng lôi kéo được niềm tin, các tuyên ngôn xã hội là khoa học, nên rất rõ ràng, không thể đánh tráo. Không kể thời trung cổ thì cho đến nay có 3 tuyên ngôn xã hội phổ biến nhất mà các xã hội văn minh chọn các tiên đề ở đó làm cơ sở cho Hiến pháp:Tuyên ngôn độc lập Mỹ (1776), Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền Pháp (1791) và Tuyên ngôn Cộng sản (1848).
2- Tiên đề xã hội cho các hiến pháp của Việt Nam
Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 [2] là bản tuyên ngôn xã hội chính thức duy nhất của nước Việt Nam cho đến nay. Điều rất đặc biệt là ngay những dòng đầu tiên bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đó đã chọn những tiên đề xã hội của Tuyên ngôn độc lập Mỹ [3]: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc", và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp [4]: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Tuyên ngôn độc lập Việt Nam đã khẳng định: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Hiến pháp Việt Nam đã có hành trình gần 70 năm, với ít nhất 4 phiên bản chính thức vào các năm 1946, 1960, 1980, 1992 [5], và 1 dự thảo 2013 [6], không kể các sửa đổi nhỏ 2001. Với các tiên đề xã hội như Tuyên ngôn Độc lập 1945 đã khẳng định, thì các quyền hiển nhiên như Độc lập, Tự do, Bình đẳng, Dân chủ là những điều khắc sâu trong lòng Việt Nam, tất phải thể hiện thành lời trong Hiến pháp Việt Nam vì Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao, với kỳ vọng là được bắt nguồn từ những lẽ phải không ai chối cãi được đó.
Người Đức có câu tục ngữ rất hay: Điều gì khắc ở trong tâm thì cũng bộc lộ nên lời. Theo triết lý đó của người Đức, chúng ta làm một thống kê nhỏ mà kết quả trình bày trong bảng dưới đây, cho ta thấy số lần xuất hiện và xác suất hiện diện của các phạm trù đó trong các văn bản Hiến pháp Việt Nam. Vì các văn bản có độ dài ngắn khác nhau, nên để định lượng cần phải tính xác suất hiện diện của chúng bằng cách tính tỷ lệ (phần nghìn) của số lần xuất hiện chia cho tổng số từ. Để dễ nhận biết, xác suất của sự hiện diện được trình bày rõ thêm bằng đồ thị kèm theo.
clip_image001
clip_image002
Nhìn biểu đồ thấy rõ sự biểu hiện của yêu cầu “Độc lập” có biến đổi ít nhiều nhưng không một chiều, “Tự do” năm 1946 là rất cao sau đó ổn định suốt nhiều thập kỷ. “Bình đẳng” tương đối ổn định. Riêng “Dân chủ” trong hành trình hiến pháp Việt Nam có sự biến đổi bất thường nhất. Trong các phiên bản ban đầu, 1946, 1960 phạm trù này được nhấn mạnh nhiều, sau đó thì giảm mạnh. Lưu ý rằng trong các thống kê này, cụm từ dân chủ nằm trong tên gọi quốc gia “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, đã được đưa ra khỏi số liệu thống kê. Tuy chỉ là một phương pháp tư duy hình thức, gần giống như một trò chơi ngôn ngữ, nhưng số liệu thống kê giản đơn như vậy cũng gợi ý để tìm hiểu kỹ hơn, đặc biệt về nội hàm “Dân chủ” trong Hiến pháp.
3- Sự định danh của một quốc gia và Hành trình dân chủ trong các Hiến pháp Việt Nam
• Việt Nam, với tư cách là một quốc gia (nhà nước), được định danh trong các Hiến pháp như sau:
Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa (Điều 1, Hiến pháp 1946).
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà…, là một nước dân chủ nhân dân (Điều 2 Hiến pháp 1960).
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản… (Điều 2, Hiến pháp 1980).
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước (gì?) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… (Điều 2, Hiến pháp 1992).
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân… (Điều 2 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2000).
• Sự định danh lại vào Hiến pháp 1980 từ nhà nước dân chủ sang nhà nước chuyên chính, là một bước ngoặt lớn, có thể hiểu là Hiến pháp được xây dựng lại trên cơ sở những tiên đề xã hội khác trước. Có lẽ hiếm có quốc gia nào có được sự tự định danh chính thức là nhà nước chuyên chính như Hiến pháp 1980 của nước ta. Nên nhớ rằng, “chuyên chính” là xuất xứ từ nguyên gốc Latin “Dictatura”, trong mọi ngôn ngữ thông dụng đều có duy nhất một nghĩa là đối nghịch với “Dân chủ – Democracy”, rất phản cảm trong xã hội văn minh [7]. Vì là từ mượn, trong tiếng Việt, nhờ sử dụng thủ thuật “từ đồng nghĩa – synonyms” cùng gốc Hán-Việt nên chữ “Chuyên chính” đã được dùng thay cho chữ “Độc tài”, và do vậy không gây phản cảm trong xã hội Việt Nam. Trong giao tiếp, quảng cáo, tuyên truyền chính trị, những thủ thuật ngôn ngữ được dùng để dễ thuyết phục một cách nhất thời như vậy không phải là điều cấm kỵ, nhưng trong một văn bản luật cao nhất như Hiến pháp của một quốc gia mà định danh một quốc gia như vậy thì rất lạ.
• Hiến pháp 1992 một lần nữa định danh lại: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…”. Cần nhớ rằng mệnh đề này là trích trong diễn văn Gettysburg (1863) của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, dùng để định danh một chính quyền, nguyên văn: “government of the people, by the people, for the people” – Chính quyền của dân, do dân và vì dân [8]. Không phải là vô tình mà A. Lincoln định danh đó cho chính quyền chứ không phải cho nhà nước. Vì nếu là nhà nước (quốc gia) thì định danh như vậy thật vô nghĩa. Coi Chính quyền đồng nghĩa là Nhà nước (quốc gia), là một sự cố tình nhầm lẫn tai hại trong chính giới và chuyển thành thói quen cả ở trong ngôn ngữ dân gian. Như vậy, thực chất Hiến pháp 1992 của Việt Nam không định danh nhà nước Việt Nam là nhà nước gì, không biết là dân chủ hay là chuyên chính hay là cái gì đó khác…!
• Có lẽ nhận thấy sơ suất này nên năm 2001 đã sửa lại Việt Nam là “…là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân… ”. Hiến pháp là văn bản pháp luật tối cao khởi thủy cho mọi văn bản pháp luật khác. Về khoa học, bất kỳ một định danh nào đều phải dẫn chiếu đến một khái niệm đã được định danh trước đó hoặc diễn dịch từ những “sự thật không thế chối cãi” – tức tiên đề xã hội. Vì vậy cần giải thích rõ “Nhà nước pháp quyền XHCN” là gì trước khi định danh cho một nhà nước.
• Qua sự định danh quốc gia trong Hiến pháp, ta có thể tóm tắt hành trình dân chủ theo con đường tiến hóa gần 70 năm như sau:
Dân chủ cộng hòa (46) --> Dân chủ nhân dân (60) --> Chuyên chính vô sản (80) --> không định danh (92) --> Pháp quyền XHCN (2001)…
Điều này lý giải cho biểu đồ về sự biểu hiện “Dân chủ" trong hiến pháp Việt Nam và hiển nhiên đã dẫn dắt sự thực thi trong xã hội chúng ta.
4- Thay lời kết
Trước một đối tượng quan trọng như chọn cơ sở nào để xây dưng Hiến pháp, trong xã hội tất phải có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới quan điểm chính trị, Hiến pháp phải xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền lực thống trị. Theo mục tiêu kinh tế, Hiến pháp phải được tạo ra theo lợi ích của việc điều khiển và thao túng đồng tiền. Lấy mục đích tuyên truyền làm chính, Hiến pháp sẽ được xây dựng bằng các thủ thuật ngôn ngữ. Điều thống nhất là tất cả các quan điểm khác nhau đều tự tuyên bố là vì quyền lợi của toàn dân. Tất nhiên thôi, vì về danh nghĩa, Hiến pháp là của toàn dân. Về nguyên tắc, Hiến pháp phải được toàn dân chấp nhận.
Khi Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở những lẽ phải không thể chối cãi được, thì việc chấp thuận của toàn dân là một lẽ tự nhiên. Còn khi cơ sở là những lý lẽ dễ bị chối cãi, dù cho Hiến pháp đó bằng cách này hay cách khác tuyên bố được nhân dân chấp thuận, thì đó chỉ là sự áp đặt khiên cưỡng. Một Hiến pháp như vậy chỉ là hình thức, chỉ để tuyên truyền và tất nhiên không thể thực thi làm nền tảng cho sự phát triển hài hòa, bền vững và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc.
Chắc là không có ai, ngoài vài ba nhà khoa học, lại ngây thơ tin rằng Hiến pháp của một quốc gia chỉ được xây dựng trên một cơ sở duy nhất, là cơ sở của những lẽ phải không thể chối cãi được.
Nhà Vật lý vĩ đại Albert Einstein đã từng thổ lộ: “Tôi không bao giờ ngại ngần và cũng chẳng bỏ lỡ một cơ hội nào để thẳng thắn nói lên niềm tin của mình, vì tôi coi đó là nghĩa vụ phải làm. Tuy nhiên, theo lẽ thường thì một tiếng nói đơn lẻ luôn luôn chìm trong tiếng ồn ào của số đông.”
T. X. H.
Chú thích
[1] axioms: a self-evident or universally recognized truth.
[2] http://dangcongsan. vn/cpv/Modules/News/NewsDetail. aspx?co_id=30196&cn_id=119997
[3] “We hold these truths to be sacred and undeniable self evident, that all men are created equal and independent; that from that equal creation they derive in rights inherent and inalienable, among which are the preservation of life, and liberty and the pursuit of happiness”; http://www. princeton. edu/~tjpapers/declaration/declaration. html
[4] “Les hommes naissent et demeurent libres et égaux en droits”. http://www.assemblee-nationale.fr/histoire/dudh/1789.asp
[5] http://vanban. chinhphu. vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=view&org_group_id=0&type_group_id=1&category_id=0
[6] http://vietnamnet. vn/vn/chinh-tri/103390/du-thao-sua-doi-hien-phap-lay-y-kien-nhan-dan. html
[7] Tiếng Anh: Dictatorship, Pháp: Dictature, Nga: диктатура, Đức: Diktatur, Trung Quốc: 独裁 (âm Hán Việt: độc tài).
[8] “…and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth.” http://showcase.netins.net/web/creative/lincoln/speeches/gettysburg.htm
Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6056&CategoryID=42