Friday, 30 May 2014

Nhân vụ Nhã Thuyên : coi lại chân dung mấy ông xuất bản ! (Nhật Tuấn)


Nhân vụ Nhã Thuyên : coi lại chân dung mấy ông xuất bản !



            
       

  Ngày xửa ngày xưa, thời bao cấp, người ta đồn  ở một cơ quan văn hoá cấp tỉnh, có một ông thủ trưởng rất ham phát động thi đua viết…báo tường. Chẳng thế mà ông đưa thành chỉ tiêu mỗi đầu người mỗi tuần phải viết ít nhất một bài . Báo hại chàng lái xe, chữ nghĩa chẳng có bao nhiêu làm sao mà viết báo ?  Cái khó thò ra cái khôn, chàng bèn mượn một đoạn thơ của cụ Nguyễn Du , trong đó có câu “ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…” chép ra giấy, ký tên mình  rồi dán lên tuờng coi như đã hoàn thành chỉ tiêu được một tuần.
Báo tường được treo ngay trong nhà ăn tập thể, cứ mỗi lần xuống ăn trưa, thủ trưởng lại ghé vưà đọc vừa khen “tốt tốt”. Bữa đó, thủ trưởng đọc đoạn thơ ký tên chàng lái xe bèn nổi cơn lôi đình, đập bàn quát :
” Mày chửi tao là “đầu trâu mặt ngựa hả ?”.
Chàng lái xe xanh mặt :
” Dạ không ạ, thơ này là của Nguyễn Du đấy ạ ?”.
Thủ trưởng lại càng giận :
” Nguyễn Du là cái … thằng nào để tao báo công an  gô cổ nó lại…”.
Chuyện tưởng đùa , ấy thế mà hồi đó, khi ông Lý Hải Châu Giám đốc NXB Văn Học xin phép in tiểu thuyết Anna Karênina của cụ Tolstôi thì bị “cấp trên’ là đồng chí Lê Xuân Đồng, Phó Ban tuyên huấn trung ương , tức là chỉ dưới có đồng chí Tố Hữu, phán một câu xanh rờn :
” In làm gì cái chuyện ...con đĩ đó…”.
Nhưng như vậy vốn liếng chữ nghĩa còn là…khá, đồng chí Lê Xuân Đồng còn biết được Anna Karênina là một bà có chồng lại còn đi ngoại tình. Còn bây giờ, vốn liếng học hành của mấy “quan xuất bản” xem ra còn thua thời đó nhiều lắm. Chẳng nói đâu xa, cứ hỏi ngay đồng chí nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Văn Học  Nguyễn văn Lưu vốn  “nổi tiếng” về vụ đánh  luận văn Nhã Thuyên,  xào xáo chuyện ma của Nguyễn Ngọc Ngạn  thì đủ biết.
Tôi xin cam đoan, đố đồng chí Lưu viết được đúng tên nhà văn Victor Hugo thì thăng ngay cho đồng chí lên chức …Bộ trưởng văn hoá thông tin thì đồng chí Lưu cũng đành…chịu. Chuyện thực 100 phần 100 , quý vị nào không tin cứ thử gọi điện cho đồng chí nguyên Giám đốc NXB Văn Học đó coi.
Là vì rằng đồng chí Nguyễn văn Lưu vốn là thương binh, văn hoá lớp 10, được nhận về sửa morrasse tại Nhà xuất bản, rồi cất nhắc đi học hàm thụ văn ( mà người đời đã có câu “ dốt như chuyên tu, ngu như hàm thụ”), học xong đồng chí lập thân bằng viết bài đánh…Dương Thu Hương và nhiều người khác.
Từ đó đồng chí Lưu, vốn quê Thanh Hoá nhờ bợ đỡ Giám đốc Lữ Huy Nguyên lên vù vù, nào biên tập viên, nào Trưởng phòng văn học VN và nhảy tót lên Giám đốc NXB Văn Học quốc gia. Khốn nạn cho đồng chí, ngồi cái ghế sang trọng đó , đầu óc lại mù tịt chẳng biết ông Cam (Camus), ông Sác ( Sartre) …là những ma mọi nào, công sức đấu đá thì nhiều, bổng lộc lại ít nên đồng chí GĐ Lưu đành tháng tháng cắp cặp bay vào Sàigòn mang theo cả giấy phép khống chỉ lẫn con dấu để bán cho các “nhà phát hành”. Hỡi ôi, gọi là “nhà phát hành” cho oai, thực ra là các “đầu nậu” sách, trình độ  văn hoá thường dao động từ lớp 8 đến lớp 10, và một trong “tứ đại gia” làm sách ở Sàigòn là Sơn Minh Khai, văn hoá chưa qua bậc thành chung , vốn là lái xe cho chi nhánh NXB Văn Học, phất lên thành đại gia. “Làm ăn” theo cái lối “bán giấy phép” – chẳng đọc, cũng chẳng biên tập, cũng chẳng biết cuốn sách viết cái chi chi- cứ đóng mộc đút tiền vào túi như vậy, hồi đó đồng chí Giám đốc Nguyễn văn Lưu trở nên nổi tiếng là người nói câu “xin lỗi, xin rút kinh nghiệm” nhiều nhất nước.
Thôi thì bỏ qua vụ xào xáo sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn báo chí đã nói tới khá nhiều, rồi đồng chí GĐ Lưu cũng đã “sorry, sorry” tới năm bảy lần. Nào là sorry nhà văn Nguyễn thị Thu Huệ in tập truyện ngắn không xin phép tác giả, nào là sorry nhà thơ Thế Phong, đại diện dịch giả cuốn “ Những bức thư tình hay nhất thế giới” , xuất bản cũng…không xin phép , nào là sorry Cục xuất bản  vì đã in cuốn “ Chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc” trong đó có cả những đoạn chửi…cộng sản vân vân và vân vân…Tuy nhiên quy tội cho đồng chí GĐ Lưu thì kể cũng “oan” cho đồng chí ấy, bởi bận bịu trăm công ngàn việc , thời giờ đâu mà đọc, mà dù có đọc thì cũng đâu có biết ông Nguyễn Ngọc Ngạn là cái ông “ma” nào, ông chỉ biết có mỗi việc…bán giấy phép thôi chớ. Tôi là tội mấy cha “đầu nậu”, chẳng biết mô tê gì cả, cứ sách nào chạy là tới ông mua giấy phép mới khổ thân ông . Mà đã mua là phải…bán thôi, không bán thì lấy gì mà…ăn. Bởi vậy cả một nền xuất bản sách đều được in ra do chọn lựa của mấy ông “đầu nậu” kiểu “tứ đại gia Sàigòn” cả , ba ông Giáo sư, nhà văn , nhà lý luận thì xin cứ …đứng vòng ngoài, muốn coi thì bỏ tiền ra mà…mua. Có vậy thôi. Với cả cũng là tại…cấp dưới, chứ đâu phải “trăm dâu đổ đầu…ông Lưu”.
Cấp dưới ông Lưu có ông Phó Giám đốc Nguyễn Cừ, trong vụ xào xáo Nguyễn Ngọc Ngạn ông nói một câu rất chi là “ lập trường tư tưởng” : “ Thì in sách cho mấy anh hải ngoại để chứng tỏ ta cũng có…dân chủ chớ…”. Thôi thì cũng chẳng trách gì ông Phó Cừ, ông vốn là…Phó phòng hành chính bên Nhà xuất bản Giáo dục, chẳng hiểu “ mua chức” hết bao nhiêu, tót ngay lên cái ghế Phó GĐ NXB quốc gia Văn Học.
Còn bà nguyên Trưởng phòng văn học VN của NXB Nguyễn thị Hạnh lại trả lời báo chí về vụ Nguyễn Ngọc Ngạn một câu rất chi là …”yểu điệu thục nữ” :
” Thì in có…vài trăm cuốn thôi mà, ai đọc…”.
Thôi thì cũng lại thông cảm cho bà Hạnh, bà vốn xuất thân xứ Nghệ, lên được Hà Nội học văn rồi “chạy” được vào Nhà xuất bản Văn học đã là…mệt mỏi lắm rồi. Về được nhà xuất bản, bà Hạnh còn bận việc chồng con, hồi  bao cấp còn phải xếp hàng mua thịt mua sàbông, thời gian đâu mà…đọc sách, bởi vậy chuyện ma chuyện quỷ, ông Ngạn ông Ngọc gì cũng cứ là …duyệt hết, cứ anh GĐ Lưu đã ký bán giấy phép rồi  là bà ký theo liền. Bởi vậy bà mới được anh Lưu o bế, sắp xếp cho cái ghế Phó GĐ chớ.  Mai kia  không hiểu nhà nước có “sắp xếp lại tổ chức” không, chứ cứ để mấy ông mấy bà cỡ này cầm cân nảy mực cho cả một nền xuất bản văn học  quốc gia như thế này, không khéo họ cho in cả “ Những bí mật thành Paris”” Cậu Chó”” Cô giáo Hạnh”….cũng nên.
Nhà xuất bản Văn Học đã thế, đến lượt Nhà xuất bản Hội nhà Văn thuộc Hội Nhà văn VN cũng “lắm chuyện” buồn lòng…cấp trên. Đồng chí Giám đốc kiêm nhà văn Nguyễn Phan Hách vốn sự nghiệp văn chương may ra trong giới còn nhớ được mỗi cái tên truyện ngắn “ Tổ chim sẻ”. Thế rồi khi đồng chí cho xuất bản truyện “ Thượng đế thì cười” của nhà văn Nguyễn Khải tưởng là…ăn chắc rồi, ấy thế mà trên cũng ra lệnh thu hồi, không cho phát hành. Mới đây người ta lại phát hiện ra đồng chí Hách bán giấy phép cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “ Câu chuyện của dòng sông” của Hermann Hersse, dịch giả Phùng Khánh  tức Ni sư Thích nữ Trí Hải,  hồi đó còn sống ở Sài Gòn , thì lại in là Bùi Giáng dịch. Không biết có phải mấy cha “đầu nậu” mượn tên người đã khuất để trốn trả nhuận bút không , chứ ông Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn đâu có biết ông Hermann Hersse, bà Phùng Khánh, ông  Bùi Gíang là những…ai ai ? Mà ai đứng tên dịch giả chẳng được, miễn là cứ trả đủ nhuận  bút là OK rồi. Mấy bác “độc giả” cứ tò mò, thóc mách bới ra làm gì . Cứ để yên cho mấy chả còn ngồi vững trên  ghế các Nhà xuất bản chớ. Rõ rách việc…

Monday, 26 May 2014

Nhân đọc bài Đội lốt văn chương tính đường gì thế? của Chu Giang



Nhã Thuyên đã bị trừng trị, nhưng vụ Nhã Thuyên vẫn chưa dứt điểm: Chu Giang lại xuất hiện trên Tuần Báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh với bài Đội lốt văn chương tính đường gì thế? Hận thù đằng đằng... Đọc xong sởn cả gai ốc, phải ghi ngay mấy ý kẻo quên.


1) Chu Giang không có quyền và không có tư cách để đòi hỏi việc sau đây:

Chúng tôi chỉ muốn ông Phạm Xuân Nguyên (PXN) chứng minh cho bạn đọc và giới nghiên cứu văn học về tính khoa học của bản luận văn: Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa.

Chứng minh tính khoa học của bản luận văn là việc Nhã Thuyên phải làm và đã làm trước hội đồng chấm luận văn. Đó không phải là việc ông Phạm Xuân Nguyên cần làm. Và cũng không phải việc ông Chu Giang muốn mà được, vì ông Chu Giang không có chân trong hội đồng đó.


2) Chu Giang không có quyền áp đặt luật chơi của mình cho những 
người không thích chơi với ông:

Và những người ủng hộ bảo vệ cho ĐTT chỉ thấy la lối trên mạng trong và ngoài nước hoặc nói miệng với nhau, có thấy bài viết đàng hoàng đứng đắn khoa học trung thực cho in chính thức trên báo chí đâu.

Người ta muốn nói ở đâu là chuyện của người ta. Sao ông cứ ép người ta phải xin được nói ở những chỗ ông thích?

3) Chu Giang có quyền suy diễn tùy tiện, nhưng xin hãy giữ lấy cho riêng ông:

Nhưng bản luận văn nó đã không còn là của riêng cô nữa. Nó quan hệ đến nội dung khoa học chương trình đào tạo ở khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội và có thể sẽ lan tỏa ra toàn hệ thống. Nó quan hệ đến việc đào tạo các thế hệ giáo viên. Từ các giáo viên nó quan hệ đến các thế hệ học sinh.

Lối suy diễn này cho phép người ta đi đến những kết luận rất lạ, rất xa... chẳng hạn Nhã Thuyên (không những không xứng đáng làm cô giáo mà còn) không xứng đáng làm vợ, làm mẹ:

Nhưng bản luận văn nó đã không còn là của riêng cô nữa. Nó quan hệ đến nội dung cô trao đổi với người đàn ông mà cô sẽ lấy làm chồng và có thể sẽ lan tỏa ra toàn gia tộc hai bên. Nó quan hệ đến việc đào tạo con cái của cô. Từ con cái của cô nó quan hệ đến các bạn bè của chúng.

Muốn viết lại đoạn văn trên để kết luận rằng Nhã Thuyên chẳng xứng đáng làm... người cũng rất dễ.

4) Chu Giang không có quyền khuyên bảo Nhã Thuyên:

Đỗ Thị Thoan - Nhã Thuyên còn rất trẻ (sinh năm 1986), còn nhiều thời gian nhiều cơ hội để nghiên cứu học tập, nhưng Chu Giang thì không còn khả năng đó nữa. Bản luận văn trên nên xem như một bài tập sai, một sản phẩm học nghề bị lỗi, phải bỏ đi, làm lại cũng là chuyện rất thường. Không lỗi mà phải bỏ thì không thể xem là chuyện rất thường. Vì những kẻ như Chu Giang mà phải bỏ thì chẳng có lý do gì để đi nghe lời Chu Giang khuyên bảo.

Friday, 23 May 2014

Cô-xư-rép là thằng nào?



Trước ngày 19-05-2014 không ai biết Cô-xư-rép là thằng nào. Giờ thì ai cũng biết nó (Дмитрий Евгеньевич Косырев / Dmitry Kosyrev) là đứa dám gọi Việt Nam là U-crai-na của Trung Quốc.

Почему Вьетнам — это китайская Украина: история очень давняя. Две тысячи лет назад Вьетнам был частью Китая. Но с 880 года — уже нет. Все последующие века вьетнамские интеллектуалы тратили немало усилий, чтобы показать: Вьетнам — не Китай. 

Đây là bài viết của nó nhân dịp Nga Trung bắt tay thân hữu: Соглашения между Москвой и Пекином лучше всякихдеклараций

***

Соглашения между Москвой и Пекином лучше всяких деклараций

 Сигналы, поступающие накануне визита Владимира Путина в Китай насчет "украинской" темы на будущих переговорах, предельно интересны. С одной стороны, "целью визита не является обсуждение украинской проблемы", таково мнение одного из бывших послов Пекина в Москве. С другой стороны, "поведение США на международной арене дает России и Китаю новую возможность для развития сотрудничества". Это тоже мнение бывшего посла Пекина в Москве, только другого. Наконец, для подписания подготовлен не простой, а "рекордный" и даже "фантастический" пакет соглашений и прочих документов. Это уже из высказываний помощника президента России Юрия Ушакова. Как расшифровать эту головоломку?

 Их Украина

В официальном сообщении о предстоящем визите как таковом говорится, что он пройдет во вторник, 20 мая, а 21 мая главы российского и китайского государств примут участие в четвертом саммите Совещания по взаимодействию и мерам доверия в Азии (СВМДА). На этом, втором для Путина, саммите не может не возникнуть тема, которая как бы зеркально отражает "украинский кризис". И тут, вроде бы, надо уже Москве что-то говорить — а она до сих пор этого старательно избегала.
Речь о том, что у Китая есть "своя Украина", почти полный аналог. Только это не одна страна, а две — Филиппины и Вьетнам. В том смысле, что они играют в отношениях Китая с США и Западом в целом ту же роль, которую сыграла Украина как таковая в отношениях России с теми же США и Западом в целом.
Накануне визита Владимира Путина Китай пережил большую неприятность — эвакуацию своих граждан из Вьетнама, числом около 3 тысяч человек или больше. Их пришлось спасать от погромов, во время которых двое погибли и около 100 человек были ранены. Ничего себе увертюра для разговоров о мерах доверия в Азии.

Вьетнам — не Китай
В начале мая Китай попытался начать подводную разведку нефти возле островов Сиша (Парасельских) в 27 километрах от китайского побережья и в 241 километре от вьетнамского. Но это, с точки зрения Вьетнама, спорные территории, и возле платформ появились вьетнамские лодки и суда, а в воде обнаружились аквалангисты, пытавшиеся расставить там сети. Не первая такая стычка в этих морях и не последняя.

Каким образом в этот конфликт вписались погромы на китайских фабриках на суше Вьетнама (часть которых вообще, как оказалось, принадлежит тайваньцам) — сложный вопрос. Вьетнамское правительство извинилось, арестовало около тысячи смутьянов. Кстати, эта история в очередной раз показала: сначала кто-то, может быть, думает организовать "контролируемый" Майдан, но дальше дело идет своим ходом.

Почему Вьетнам — это китайская Украина: история очень давняя. Две тысячи лет назад Вьетнам был частью Китая. Но с 880 года — уже нет. Все последующие века вьетнамские интеллектуалы тратили немало усилий, чтобы показать: Вьетнам — не Китай.

Хотя для наивного человека тут возникает много вопросов: а в чем отличия? Внешность, язык, основы культуры? Но соседняя китайская провинция Гуандун во всех этих смыслах очень похожа на Вьетнам, а, например, язык ее точно так же не вполне понятен китайцам из прочих провинций, как и вьетнамский. И вообще все провинции Китая чем-то от других отличаются… В общем, вот такой у них эмоциональный фон отношений. Который делает Вьетнам очень удобным орудием для создания проблем Китаю — как Украину для России.

И не забудем, что последняя война, которую в своей истории вел Китай (маленькая и для китайцев не очень победоносная, в 1979) была с Вьетнамом. По какому поводу — уже неважно. Но была.

Что касается Филиппин, то тут история несколько другая. Образованной элите этой страны было не по себе оттого, что американцы — бывшие колониальные хозяева Филиппин — "уходили" из Азии. Нынешнее филиппинское правительство чувствует себя спокойнее в прежней роли — союзника США, хотело бы такой союз возродить. И ведь всего-то для этого требуется поддерживать не очень сильную напряженность в отношениях с Китаем. По какому поводу? А по поводу всяких морских спорных территорий. Море большое, споров на всех хватит. Хотя нельзя не заметить, что пока США "уходили" из Азии, страны этого региона как-то обходились без конфликтов и споров.

Не тратить слов зря
Никто в США особо и не скрывает сути происходящего. Все в открытую. Нужна колючка-другая в боку Китая, показывающая всем в Азии, что дракон не всесилен. Не реагирует на территориальные притязания слабых соседей по поводу островов, которые лет 20 назад никого не волновали? Значит, сам слаб. Реагирует, обижает маленьких? Значит, плохо себя ведет, слишком силен, и тут для регионального баланса всем нужна Америка.

Вот так уже несколько лет выглядит на практике политика администрации Барака Обамы по "возвращению в Азию". Как видим, почерк точно тот же, что с Россией и Украиной (раньше — с Грузией). Нужна небольшая страна, которую в случае чего не жалко. Одна, или две. Более того, Россия и Китай не единственные мишени такой политики, нечто подобное США уже не раз проделывали в самых разных частях света. Это уже как бы норма.

И вот представим себе: что Москва должна говорить с трибун по поводу этой истории? Что она — твердо на стороне Китая, а Вьетнам неправ? Но Вьетнам — наш друг и партнер, да и Филиппины не враг. Главное же, чего конкретно мы добьемся тут громкими словами с трибун, кроме осложнений? И чего добьется Китай, если будет заявлять на всю Европу и Америку: да мы же хорошо знаем, кто и что устраивает против России с помощью украинского кризиса — потому что с нами творят то же самое?

Не говоря о том, зачем нам (или Китаю) вообще нужна вот такая поддержка друг друга, если мы никоим образом не падаем? Мы понимаем, что нас пытаются ослабить. Но можем себе позволить не обращать внимания и продолжать подписывать контракты.

Кстати, "рекордный" пакет контрактов готовился заранее, в порядке развития многих лет партнерства, без особой связи с Украиной, и это тоже своего рода ответ на самые разные вопросы и ожидания. Никто не собирается шарахаться с западного направления сотрудничества к восточному (есть такая наивная идея) просто потому, что такие процессы занимают годы. Мы с Китаем их зря не тратили.

А громкие декларации… Кто конкретно их ожидает? Не политики, а публика. Мы — по поводу Украины, китайцы — по поводу островов в Южно-Китайском море, прежде всего хотим правды, правильных слов. В нашем, массовом, человеческом сознании сильнее всего в этих историях — обида: как же можно этим американцам или европейцам так откровенно, нам в лицо, врать по каждому эпизоду украинского (южно-китайского морского) кризиса? Ведь знают же, что мы знаем, как все на самом деле. Но врут. Вот сейчас мы с русскими (китайцами) соберемся вместе и скажем все как есть.

А надо ли? Напомню, что в русской и китайской культуре есть такая особенность — не тратить слова зря. Самые важные вещи — те, о которых и говорить не нужно. Мы на кого-то обижаемся? Но на обиженных воду возят.

Дмитрий Косырев, политический обозреватель МИА "Россия сегодня".

***

Tóm tắt lý lịch của nó đây: sinh năm 1955, tốt nghiệp học viện Á Phi (đại học tổng hợp Mát-xcơ-va) và đại học quốc gia Xing-ga-po, là nhà sử học, đông phương học và hiện là bình luận viên chính trị của RIA.

Nhà đông phương học này từ nay có lẽ tuyệt đường lui tới Việt Nam.

Saturday, 17 May 2014

Từ ngữ có gì giống như cục pin?



Từ ngữ mang nghĩa như cục pin mang điện. Nghĩa tích (tiếng Pháp: charge sémantique) của từ ngữ giống điện tích (tiếng Pháp: charge électrique) của cục pin. Pin mới thì điện mạnh cũng như từ ngữ mới mẻ có thể gây cảm xúc mãnh liệt, lôi cuốn người đọc, người nghe. Pin dùng lâu ngày, điện yếu dần; từ ngữ dùng tới dùng lui mọi lúc, mọi nơi thành ra sáo mòn, không khác gì những cục pin cũ. Pin cũ rồi đem sạc lại vẫn không thể mạnh như pin mới; sạc nhiều lần quá thì bị chai, không còn khả năng tích điện nữa, phải thải. Từ ngữ cũng thế: khi tần số sử dụng vượt quá một giới hạn nào đó, sẽ xảy ra hiện tượng mất nghĩa, tức là nghĩa tích xuống đến tận cùng bằng không và ở đó luôn, không nhúc nhích, bất chấp mọi cố gắng định nghĩa lại, lý giải lại.

Khi theo dõi các diễn ngôn chính trị hiện nay, ta thấy rất khó nhận ra sự khác biệt giữa các phe nhóm. Một chiến lược ngôn từ được tất cả các bên đồng loạt triển khai là tận dụng, thâm dụng, tái sử dụng triệt để vốn từ ngữ giúp phe mình giành lấy vị thế chính thống. Người đứng ra phản đối luật biểu tình bảo rằng nhân dân không muốn biểu tình; người ủng hộ luật biểu tình cũng dựa vào nhân dân để đập lại phe kia. Rồi họ xoay nhau bắt bẻ định nghĩa của từ ngữ, nội hàm của khái niệm... như thể là việc sạc lại nội dung cho cục pin từ ngữ vẫn còn có tác dụng. Vì vậy mới có anh bộ trưởng nọ dụ dân như dỗ con nít ăn kẹo “Đóng thêm nhiều phí là yêu nước”. Mấy chục nghìn tỷ đồng của dân bốc hơi, anh Tư gọi là “sai phạm”, anh Ba chống chế là “khuyết điểm”, chung quy vẫn là những từ ngữ giữ cho các anh yên ổn giương cao ngọn cờ chính nghĩa.
Chiến lược tái sử dụng pin cũ cho thấy bản chất của diễn ngôn chính trị hiện nay là (họ, những người nắm giữ quyền lực) “nói cho nhau nghe”. Không phe nhóm hay cá nhân nào có ý định tìm kiếm sự ủng hộ từ phía những người đứng ngoài hệ thống quyền lực nên không cần phải dụng công tìm kiếm những từ ngữ mới mẻ, đủ sức lôi cuốn những người thấp cổ bé họng. Anh bộ trưởng kêu gọi dân đóng thêm phí là thể hiện lòng yêu nước, không dè là người dân đã quá mệt mỏi qua nhiều năm dài với rừng khẩu hiệu huy động sức dân: Thi đua là yêu nước Mua công trái là yêu nước / Đóng thuế là yêu nước... Đồng tiền dính liền khúc ruột.  Người móc tiền ra nộp cần biết đồng tiền đó đi đâu, về đâu. Nhưng vốn từ của bộ trưởng quanh đi quẩn lại chỉ có thế thôi, không nói khác được. Chẳng riêng gì anh, anh nào cũng thế.

Friday, 16 May 2014

Tiếp tục đi tìm người nói câu ấy...



Bài "Hãy thể hiện mình là người yêu nước tỉnh táo với những hành động đẹp !" của Trần Quang Hà (báo Nhân Dân ngày 14-05-2014 ) đến đầu buổi sáng 16-05-2014 chỉ mới có 3 trang được Google lập chỉ mục với từ khóa tìm kiếm là câu "Lợi dụng lòng yêu nước là tội ác không thể tha thứ".
Bạn Lê Tâm cho biết phát biểu trên rất có thể là biến thể của câu “Lợi dụng lòng yêu nước là tội ác không thể dung thứ”. Cho đến giờ này Google chỉ tìm thấy 8 trang có câu đó. Tác giả là Mõ Làng viết ngày 08-05-2014.

Thursday, 15 May 2014

Ai đã nói câu ấy?


Báo Nhân Dân ngày 14-05-2014 có bài "Hãy thể hiện mình là người yêu nước tỉnh táo với những hành động đẹp !" của Trần Quang Hà:

Thời gian qua, dù không được cơ quan chức năng có thẩm quyền cho phép, một số người nhân danh "lòng yêu nước" tổ chức tụ tập đông người nhằm chống đối, vu cáo Nhà nước; đó là hoạt động phi pháp, và lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự phải có hành động ngăn cản. Về hiện tượng này, một blogger đã viết rất cụ thể: "Lợi dụng lòng yêu nước là tội ác không thể tha thứ"!.

Câu Lợi dụng lòng yêu nước là tội ác không thể tha thứ thật là lời hay ý đẹp, ai nói cũng được, không cần phải mượn uy tín của một blogger (vô danh) nào cả. Dùng Google để kiểm tra ngày 15-05-2014 có thể thấy rằng cho đến lúc này chỉ có thể tìm câu ấy ở bài báo của Trần Quang Hà mà thôi.

Wednesday, 14 May 2014

Phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương Đảng lần chín



23:7' 14/5/2014
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị. Ảnh: TTXVN
TCCSĐT - Chiều 14-5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra, sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và trách nhiệm. Tạp chí Cộng sản điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc.

Thưa các đồng chí Trung ương,
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và trách nhiệm, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Trung ương đã xem xét, cho ý kiến và quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao thông qua nghị quyết của Hội nghị. Sau đây, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu khái quát lại những kết quả chủ yếu của Hội nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.
1- Hội nghị đã xem xét kết quả tổng kết và nhất trí ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Hội nghị thống nhất nhận định: Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển; thể chế về văn hóa từng bước được xây dựng, hoàn thiện; đời sống văn hóa ngày càng phong phú. Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát huy; nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn hóa, văn học - nghệ thuật ngày càng đa dạng. Công nghệ - thông tin, nhất là thông tin đại chúng, có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy. Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo. Nhiều phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng. Quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của nhân dân được đề cao. Giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa được quan tâm và có nhiều khởi sắc.
Tuy nhiên, so với những thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại thì thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa thực sự tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa ở nhiều nơi còn nghèo nàn; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái thuần phong mỹ tục; các tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học - nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Hoạt động lý luận, phê bình văn hóa, văn nghệ chưa theo kịp thực tiễn sáng tác. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực; một số cơ quan truyền thông có biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu tầm thường. Hoạt động hợp tác, giao lưu văn hóa với nước ngoài còn hạn chế; vẫn còn tình trạng tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa bên ngoài, tác động tiêu cực đến văn hóa trong nước.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nói trên có nhiều, nhưng chủ yếu là do nhiều cấp ủy và chính quyền chưa quan tâm đầy đủ đến lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết còn chậm và thiếu điều kiện bảo đảm thực hiện. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới; có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật kỷ cương không nghiêm. Đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp...
Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, Trung ương chỉ rõ, phải tiếp tục kế thừa, bổ sung và phát triển những quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa đã được nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; đồng thời nhấn mạnh tư tưởng: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong xây dựng văn hóa phải lấy xây dựng, phát triển con người có nhân cách, đạo đức, có lối sống tốt đẹp làm trọng tâm; xây dựng môi trường văn hóa (gia đình, cộng đồng và xã hội) lành mạnh làm cốt lõi.
Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với những đặc trưng tiêu biểu là dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến là một nền văn hóa yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm mục tiêu tất cả vì con người, tất cả vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và tự nhiên. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự ứng xử văn minh, lịch sự, tính giản dị và trong sạch trong lối sống.
Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam. Vì vậy, quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người, xây dựng và phát huy nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Đây là khâu trọng tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Hướng các hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, làm cho văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội. Đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khuyến khích, nâng đỡ, nhân rộng cái đúng, cái tốt, cái tích cực; bảo vệ các giá trị nhân văn trong đời sống xã hội. Đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu; chống các quan điểm sai trái gây ảnh hưởng xấu đến xây dựng văn hóa và ổn định xã hội.
Tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy các giá trị gia đình, cộng đồng, dân tộc Việt Nam. Thực hiện chiến lược quốc gia về gia đình Việt Nam. Mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, trường học, cơ quan, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nếp sống văn minh, nhất là việc cưới, việc tang, lễ hội. Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông. Đẩy nhanh việc cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa và có chế tài đủ mạnh để tổ chức thực hiện Nghị quyết, ngăn ngừa những vi phạm trong hoạt động văn hóa. Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trên lĩnh vực văn hóa. Quản lý tốt hơn việc sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sa đà vào những thông tin, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường. Tích cực đấu tranh với những biểu hiện lai căng, những sản phẩm độc hại, những hành vi phi văn hóa, phản văn hóa, góp phần bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc và tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam.
Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của anh chị em văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong đạo đức, văn hóa tôn giáo; khuyến khích các hoạt động tôn giáo hướng thiện, nhân đạo, nhân văn, tiến bộ, “tốt đời, đẹp đạo”; ngăn ngừa và phê phán các biểu hiện mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh cùng những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo để hoạt động phi pháp, chống phá chế độ.
Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Tăng cường nguồn lực cho văn hóa. Tiếp thu tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm phát triển, quản lý văn hóa của các nước trên thế giới.
2- Hội nghị thống nhất về tư tưởng chỉ đạo, định hướng hoàn thiện đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Đánh giá cao sự chuẩn bị của Tiểu ban văn kiện và Tiểu ban kinh tế - xã hội, Trung ương đồng tình về cơ bản với dự thảo Đề cương Báo cáo Chính trị và Đề cương Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Đồng thời, nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của Đại hội XII trong việc tiếp tục thực hiện Cương lĩnh của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020), từ đó định hướng cho hai Tiểu ban và các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện Đại hội để trình Hội nghị Trung ương 10 xem xét, quyết định vào cuối năm nay.
Trung ương yêu cầu, việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XII phải thể hiện tinh thần tiếp tục chăm lo công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khai thác mọi nguồn lực, vật chất, tinh thần, trong nước và ngoài nước, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Quan tâm xử lý thật tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ.
Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện, phải căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XI, các nghị quyết của Trung ương và kết quả tổng kết 30 năm đổi mới, đồng thời bám sát vào thực tiễn của đất nước để đánh giá một cách khách quan, khoa học các vấn đề; phân tích sâu sắc các nguyên nhân; dự báo có cơ sở khoa học triển vọng tình hình trong và ngoài nước, để từ đó xác định đúng đắn phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu cho nhiệm kỳ tới.
Đặc biệt, cần đi sâu phân tích, đánh giá việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2010 - 2015; dự báo khả năng thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2010 - 2020), nhất là khả năng thực hiện mục tiêu tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chú trọng làm rõ một số vấn đề lớn quan trọng như:
Trên lĩnh vực kinh tế: Tình hình thực hiện chủ trương phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường do Đại hội XI đề ra; việc điều chỉnh mục tiêu và chỉ đạo điều hành chuyển sang ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội; việc thực hiện chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược...; việc xác định các nguồn lực và động lực mới cho sự phát triển đất nước.
Trên lĩnh vực xã hội: Cùng với các vấn đề về lao động, việc làm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm an sinh, trật tự, an toàn xã hội,... cũng cần phân tích, đánh giá về thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay; việc nhận thức và giải quyết các quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích, kiểm soát rủi ro, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội; việc nhận thức và thực hiện các chính sách xã hội; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển; tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội,...
Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Trước những diễn biến phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, nhất là tình hình Biển Đông hiện nay, cần có sự quan tâm đặc biệt đối với việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Xác định rõ những thuận lợi, khó khăn, thách thức đang đặt ra và chủ trương, chính sách, biện pháp cần áp dụng để giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Nhận định, đánh giá thật sát, đúng về kết quả đấu tranh, đẩy lùi 4 nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo để có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thành công Chiến lược bảo vệ Tổ quốc đã được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành gần đây.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Cần phân tích, đánh giá đúng thực trạng và đề ra các giải pháp cụ thể để tiếp tục xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và phương thức lãnh đạo, quản lý. Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phòng, chống sự suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; công tác bảo vệ chính trị nội bộ; vấn đề thực hiện dân chủ và kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết, thống nhất trong Đảng; vấn đề chất lượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng; xây dựng, thực hiện chiến lược cán bộ và công tác cán bộ; nội dung, mô hình, phương thức cầm quyền của Đảng; phương thức lãnh đạo và lề lối công tác của Đảng; vấn đề thực hiện dân chủ gắn với kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhất là trong giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, xây dựng sự đồng thuận xã hội...
Theo những định hướng trên đây, các Tiểu ban và Tổ Biên tập cần phát huy cao độ trí tuệ tập thể, thu hút sự đóng góp của toàn Đảng, của nhân dân, tập trung sức xây dựng dự thảo các văn kiện đúng tầm trình Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, bảo đảm Báo cáo chính trị thực sự là văn kiện trung tâm của Đại hội để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ 2016 - 2021; Báo cáo kinh tế - xã hội là báo cáo chuyên sâu về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới.
3- Hội nghị đã thảo luận dân chủ, xem xét thận trọng và thống nhất kết luận, cho ý kiến chỉ đạo đối với một số vấn đề quan trọng khác
Một là, về việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, Trung ương đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, xác đáng vào Tờ trình và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị. Đồng thời nhấn mạnh, đây là công việc trọng tâm, cần sớm được triển khai thực hiện, với tinh thần tiếp tục đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; bảo đảm tăng cường đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Các cấp ủy đảng cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thảo luận các dự thảo văn kiện của Đại hội toàn quốc lần thứ XII và đại hội đảng bộ cấp trên; đồng thời chuẩn bị thật tốt các báo cáo của ban chấp hành đảng bộ mình. Báo cáo của ban chấp hành đảng bộ cần đánh giá đúng tình hình thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ qua; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ tới. Công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy phải thực hiện theo đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng, lựa chọn, giới thiệu và bầu được những người thật sự xứng đáng, đủ tiêu chuẩn tham gia cấp ủy; chú ý phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có triển vọng, bảo đảm tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc.
Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị, sau Hội nghị này, khẩn trương chỉ đạo, sớm hoàn chỉnh và ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị để định hướng cho toàn Đảng chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội các cấp, góp phần cho thành công của Đại hội XII của Đảng.
Hai là, về quy chế bầu cử trong Đảng, Trung ương đã thảo luận rất kỹ và nhất trí ban hành Quy chế mới của Ban Chấp hành Trung ương trên cơ sở kế thừa Quy chế bầu cử trong Đảng do Bộ Chính trị các khóa trước ban hành, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định mới quan trọng, như: Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh; về việc ứng cử, đề cử của cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; về số dư trong danh sách bầu cử; về lập danh sách bầu cử; về quy trình, thủ tục bầu cử...
Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện đúng đắn, đầy đủ Quy chế này, góp phần bảo đảm thi hành đúng Điều lệ Đảng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tạo sức mạnh, sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng.
Ba là, về đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy định 165 của Bộ Chính trị về lấy phiếu tín nhiệm, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao với Tờ trình của Bộ Chính trị và khẳng định chủ trương lấy phiếu tín nhiệm là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm trong thời gian qua, nhìn chung, được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Việc lấy phiếu tín nhiệm là một kênh thông tin đánh giá cán bộ, có tác dụng kịp thời cảnh báo, nhắc nhở để cán bộ tự soi mình, phát huy ưu điểm, tự sửa chữa khuyết điểm, góp phần ngăn ngừa sự thoái hóa, biến chất, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đồng thời cũng là biện pháp tốt để quản lý và bảo vệ cán bộ.
Tuy nhiên, do đây là công việc mới, chưa từng làm, cho nên cũng còn có những hạn chế, khiếm khuyết, cần được kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh. Trung ương hoan nghênh tinh thần nghiêm túc, cầu thị, lắng nghe của Bộ Chính trị và nhất trí cao với Bộ Chính trị cần điều chỉnh một số điểm trong Quy định 165 để tiếp tục triển khai thực hiện, như đề xuất của Bộ Chính trị.
Bốn là, về tổng kết thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, biểu dương những nỗ lực của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân các tỉnh, thành phố được chọn thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X và Nghị quyết 26 của Quốc hội khóa XII. Trung ương nhất trí về cơ bản với những nhận định, đánh giá tình hình và đề xuất của Ban cán sự đảng Chính phủ, yêu cầu Chính phủ nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Trung ương, hoàn chỉnh đề án trình Quốc hội xem xét trong quá trình chuẩn bị xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, đúng theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Trong thời gian từ nay đến khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương mới được thông qua và có hiệu lực, tiếp tục giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của chính quyền các địa phương được chọn thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân.
Năm là, đối với Đề án tổ chức Đảng bộ Ngoài nước, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét và quyết định: Đảng bộ Ngoài nước trực thuộc Trung ương, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Bí thư; giao Bộ Chính trị xem xét, quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Ngoài nước theo quy chế làm việc.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thành công tốt đẹp; nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta từ nay đến cuối nhiệm kỳ khoá XI là rất rõ ràng nhưng cũng hết sức nặng nề. Kinh tế - xã hội tuy đã có những chuyển biến tích cực, đúng hướng, nhưng vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là kết quả đạt được một số chỉ tiêu còn thấp xa so với mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã thu được những kết quả quan trọng bước đầu, nhưng vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém. Văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, cũng có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp, cần sớm được khắc phục như chúng ta vừa bàn những ngày qua. Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Đề nghị mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương hãy nhận thức đầy đủ và nêu cao hơn nữa trách nhiệm thiêng liêng và nặng nề của mình, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cương vị công tác được giao, góp phần lãnh đạo tổ chức thực hiện có kết quả Nghị quyết Đại hội XI, các Nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết của Hội nghị lần này, đồng thời chuẩn bị thật tốt đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn./.